Bài viết

AI ĐI LÊN CHỐN CỬA RÀO

12/08/2026Phường Lâm Viên - Đà Lạt ((LĐ) Đoàn phường Lâm Viên - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đối với cậu Cung, bãi Dăm Chùa chưa bao giờ rùng rợn hoang vắng như ngày ấy, một ngày cuối năm 1904. Vì nơi đó đã vùi sâu xuống lòng đất người bà ngoại vô cùng kính yêu.

Không ai dỗ được cậu đi về. Bà An, dì ruột của cậu đã khản cả cổ, cất không lên tiếng. Bà muốn nói với cậu: “Cháu ơi, cháu đau đớn một thì dì đau đớn mười, vì bà vạch ruột đẻ ra dì, đẻ ra mẹ cháu, song biết làm thế nào?”. Nhưng bà chỉ thốt ra được mấy tiếng: “Thôi cháu ơi, trời tối thật rồi!”... là khóc òa lên.

Cậu Cung phải theo dì mà đi về. Chốc chốc, cậu ngoái nhìn lại, nhưng nào có thấy bà đâu, bốn bề  quạnh vắng.

Bà ngoại qua đời, tổn thất ấy làm đổi thay lớn trong cuộc sống của cậu. Lâu nay thân phụ lấy cớ phải ở nhà phụng dưỡng mẹ già để từ chối việc đi làm quan. Nay ông không còn viện được lý do gì nữa. Mà cảnh sống chung quanh thì thật đau lòng khôn xiết.

“Ối thầy chánh, thầy phó ôi! Ối ông đội, ông cai ôi. Các ông tha cho con tôi. Vợ nó bụng mang dạ chửa mà trong nhà tiền hết gạo không. Anh nó đã vì các ngài mà bỏ xác nơi rừng xanh núi đỏ. Tôi cắn rơm, cắn cỏ lạy các ngài”.

Bà lão theo đoàn phu mà đi, trông đã kiệt sức lắm rồi nhưng vẫn cố kêu rống lên như vậy. Đáp lại lời kêu van thảm thiết ấy là làn roi từ tay viên cai phu mặt lạnh như tiền, vút lia lịa vào tấm thân già nua, còm cõi.

Viên phó tổng đi sau cùng, quần cháo lòng đã đứt hết gấu, khăn đóng kéo trật ra sau gáy. Y cũng cầm một cành roi lăm lăm vút vút, miệng phả nồng nặc mùi rượu:

- Không thoát được đâu các con ơi, trời thấp thì phải đi còng chứ biết làm sao!

Y cứ an ủi dọa dẫm đoàn phu theo tư tưởng bạc nhược như vậy. Cái chức phó tổng của y mới có từ khi việc bắt phu ở các làng xã gặp nhiều khó khăn. Thực dân phải cho đặt thêm một viên phó tổng nữa gọi là “phó tổng tăng thiết” để đốc thúc truy nã người bị bắt phu. Thôi thì những tên đó tha hồ hoạnh họe dân, ăn hối lộ.

Cậu Cung đứng sững lại. Cậu nhíu đôi lông mày, cắn chặt môi và ứa nước mắt. Trên con đường hàng tỉnh đi qua làng Sen này, lâu nay diễn ra biết bao cảnh tượng như vậy.

Mở đường, đốn ruộng, khai mỏ dựng nhà máy, xuất cảng tài nguyên, hàng hóa... ách bóc lột của thực dân siết chặt lắm rồi.

Công cuộc kinh doanh ở thuộc địa đòi hỏi nhiều phương tiện, trước hết là đường đi. Đường sắt đã vào đến Vinh. Đường bộ mở nhiều gấp mấy lần, mở tận vào những núi cao, rừng thẳm. Nay, người Pháp cần mở gấp con đường Vinh đi Cửa Rào - Trấn Ninh. Chúng ngang nhiên gọi những con đường như vậy là đường thuộc địa.

Con đường Vinh - Cửa Rào khởi công đã ba năm mà ngày hoàn thành còn rất xa. Bọn thực dân thì rất sốt ruột vì chúng đã nhận ra thành phố Vinh - Bến Thủy là trung tâm kinh tế, chính trị của Bắc Trung Kỳ và là cửa ngõ của Thượng Lào. Biết bao xương máu của nhân dân Nghệ - Tĩnh đã đổ ra vì những đoạn đường băng rừng xuyên núi ấy.

Đoàn người trước mặt cậu Cung đang thất thểu bước. Bà lão cứ lăn ra khóc. Có lẽ tiếng khóc đã tác động mạnh đến đoàn phu nên bọn cai rất hốt hoảng. Chúng thay nhau đánh bà. Bác Đĩ Tờn phải quay lưng lại mà đỡ đòn cho bà cụ. Thế là đầu bà lão chúng chẳng tha mà lưng bác Đĩ Tờn chúng cũng chẳng từ. Mới ngày nào còn là một trai cày, tấm lưng bác Đĩ Tờn thật đẫy và rộng. Nay do đói nghèo, tuổi tác đã hằn lên đó những đốt xương sống và những cạnh xương sườn.

Ngày hôm qua, bác đã xếp đủ các thứ: chiếc tơi lá, tấm bao tải, ruột tượng gạo, cái bao gạo mà bác trai cứ giằng bốc bớt ra, bác gái lại níu đổ vào. Người ra đi sợ kẻ ở nhà không có gì cầm hơi, người ở nhà lại lo người ra đi sẽ đói lả dọc đường. Bác Đĩ Tờn với tay viết lên xà nhà: “Năm Ất Tỵ, tháng ba, mùng tám” rồi gạt nước mắt từ biệt vợ con. Bác phải ghi như vậy vì nhỡ nếu bác không về thì người nhà nhớ lấy ngày đó mà cúng giỗ. Giờ đây, bác nghĩ đến những ngày còn lại của bà lão và ngày mai của mình mà xót xa. Bác không còn mẹ già. Mẹ bác chết hồi bác còn nhỏ. Nay gặp bà cụ hiền lành này, bác coi đó như mẹ mình và nhận ra, tiếng khóc của bà lão cũng là tiếng khóc của những người mẹ, người vợ, tiếng khóc vì nạn đi phu.

Như vậy đó, đã mấy năm rồi, đi phu là một tai họa, một thảm cảnh lao dịch vô vọng. Những người khố rách áo ôm phải rời bỏ gia đình, làng mạc ra đi đã cay đắng bảo nhau:

          Ai đi lên chốn Cửa Rào  Nhớ mang chiếc chiếu bó vào cởi ra.

Mà đâu chỉ dừng lại ở Cửa Rào. Con đường quốc lộ này sẽ mở lên tận Nậm Cắn rồi vượt biên thùy. Cậu Cung cứ đứng nhìn, nhìn mãi cho đến khi bóng đoàn phu mất hút sau những khe vườn chật hẹp, những mái tranh xác xơ của vùng chợ Vạc, ngược Sa Nam.

Trong nhà, ông Nguyễn Sinh Sắc đang thẫn thờ suy nghĩ. Một điều hệ trọng vừa mới xảy đến với gia đình.

Triều đình lại sức giấy gọi ông vào làm quan. Tâm trạng ông thật rối bời. Ông đang nghĩ đến những bước đi của bạn bè.

Cụ Hà Toán kể:

-           Cầu Hữu Biệt bắc cạnh núi Độc Lôi - chắc là nơi các anh đã đi qua. 

Cụ đưa mắt nhìn xuống đó, phía đường xuyên cầu đi xuống Vinh để rồi vào Nam ra Bắc mà nhớ lại:

-           Với lớp người như chúng tôi, cứ mỗi lần nhìn thấy cầu Hữu Biệt là nhớ lại những tích truyện, những buổi tiễn đưa, những lời xướng họa. Có bài thơ như bài cụ Bảng Sắc tiễn cụ Phan xuất dương thì chúng tôi nhớ nhập tâm. Bài thơ không nói đến yêu nước chống Tây gì cả mà hồi đó chúng tôi cứ phải đọc giấu, đọc lén. Phải đọc giấu không phải vì đó là thơ của thân sinh đồng chí Nguyễn Ái Quốc mà chính vì bản thân bài thơ. Giấu đi mà đọc, thế mà thơ cứ lan đi rất nhanh, một phần vì bài thơ thật gọn, thật dễ nhớ. Bài thơ có nhiều cách dịch. Chúng tôi cứ diễn Nôm thành ca dao thế này:

Độc Lôi dừng gót nơi đây

Mé tây Hữu Biệt, cầu này tiễn anh Tay vin chéo áo ngọn ngành Mưa đơn, gió kép ta đành xa nhau.

Nhiều cụ sính thơ họ nói bài này ý tứ nằm ngoài chữ nghĩa. Có hiểu hoàn cảnh của quê hương đất nước lúc ấy mới biết được ý của người làm thơ.

Giọng cụ Hà Toán vẫn say sưa:

-           Thơ như lời vợ tiễn chồng. Khó mà nhận ra đó là lời của những người bạn cùng tâm huyết. Đôi bạn xa nhau có lẽ vì không tiện đi cùng. Xa về đường đi mà gần về lòng yêu nước.

Cùng các bạn tiễn cụ Phan ra đi nhưng rồi ông Sắc ở lại. Và kia, trên án thư trước mặt ông vẫn còn bức công văn của bộ Lại.

Đi làm quan hay làm gì bây giờ? Hiểu thế nào đây nỗi lòng của ông Phó bảng. Nhìn ra, ảnh hưởng của ngọn cờ Cần Vương coi như đã hết mà một ngọn cờ mới thì chưa xuất hiện. Giải phóng dân tộc, đó là yêu cầu bức thiết của lịch sử. Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đều cùng vươn lên đáp ứng nhưng mỗi người nghĩ một cách. Khi con đường cứu nước còn đang phải mò mẫm thì một số sĩ phu tạm thời giữ thái độ bất hợp tác với giặc và cung cách của việc bất hợp tác cũng thật phong phú, tế nhị. Bà con làng Sen to nhỏ bảo nhau: “Người ta làm quan cốt vinh thân, còn ông Bảng đi làm quan là để che thân”.

Con đò chở Phan Bội Châu và các đồng chí của cụ lại nhổ sào rời bến Sa Nam mà xuôi về ngã ba chợ Tràng1. Tháng bảy mùa thu. Nước thu trong xanh và trời thu lồng lộng. Cụ đã cho bác lái cất bớt ___________

1. Theo Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957.

tấm mui ở khoang trước. Gió đông nam và trăng giữa tháng cứ ùa vào, ùa vào mãi làm cho cụ Phan thấy như những khoang thuyền mình đang đi chật hẹp quá. Bác lái cũng không rõ thuyền của mình nặng hay nhẹ nữa...

Hương Cảng, Thượng Hải, Hoành Tân, Đông Kinh... những xứ sở xa xôi ấy cụ Phan đều đã tới nơi. Lương Khải Siêu, con người cụ đã biết nhiều trên sách vở cũng như Đại Ôi, Khuyển Dương Nghị - những kẻ có trọng trách, có thế lực của nước Nhật duy tân cụ đều đã tiếp xúc1. Nhận rõ vàng thau, cần phải có thời gian. Trước mắt cụ Phan thấy tuy họ có điều khinh tiếng trọng đối với việc làm của mình, thậm chí đối với cả dân tộc mình, nhưng nói chung, họ ủng hộ công việc của cụ đang làm. Họ khuyên cụ về nước chuyến này để đón Cường Để2 và đưa một số thanh niên sang học ở các trường chính trị và võ bị. Cụ Phan về giữa lúc các sĩ phu Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thái Thân, Vương Thúc Quý, Đặng Văn Bá đang hân hoan chờ đón. Các cụ chia nhau mỗi người đi lo một việc, lòng những nghĩ: “Việc dẫu nặng chia mang cũng nổi”.

Theo cụ Phan sang Nhật để sau về giúp nước là một điều sôi động thiết tha nhất đối với thanh, ___________

1.   Theo Phan Bội Châu niên biểu, Sđd.

2.   Tức Nguyễn Phúc Dân, cháu đích tôn Hoàng tử Cảnh. Hoàng tử Cảnh là con trưởng Nguyễn Ánh (Gia Long).

thiếu niên lúc bấy giờ. Cụ Phan đang sống những ngày hứa hẹn nhất của sự nghiệp mình.

Chọn mặt gửi vàng, cụ định đón cậu Nguyễn Sinh Cung con trai của bạn mình cùng đi1. Nhưng cậu Cung không theo cụ Phan đông du sang Nhật mà đi Huế theo cha. 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
AI ĐI LÊN CHỐN CỬA RÀO | Câu chuyện thời hoa lửa