Alăng Bhuôch - "anh hùng mù"
“Mắt tôi chết, chứ tôi không chết. Mỹ có tha cho người mù không?”
Cuộc đời của Anh hùng Alăng Bhuôch là sự đan xen giữa những nghịch cảnh cùng cực của số phận và ý chí, nghị lực phi thường
Khi bóng tối bao trùm cùng sự hoài nghi từ cộng đồng
Alăng Bhuôch sinh năm 1931 tại huyện miền núi Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. Năm lên 9 tuổi, sau một trận đau kéo dài (bệnh sởi), đôi mắt của cậu thiếu niên ấy vĩnh viễn mất đi ánh sáng. Thế giới của ông từ đó chìm trong một màu đen vĩnh viễn. Cha mất sớm, gia đình nghèo khó, có những ngày tủi thân, ông chỉ biết hỏi mẹ: "Mẹ ơi, bao giờ trời mới sáng?".
Khi ông xung phong xin đi làm dân công hỏa tuyến vào năm 1958, gia đình ngăn cản, xóm làng lo lắng. Ai cũng nghĩ người sáng mắt đi rừng Trường Sơn còn muôn vàn trắc trở, huống chi một người mù làm sao đi nổi qua vực sâu, suối dữ, dốc đá dựng đứng. Trước những ái ngại ấy, Alăng Bhuôch khảng khái thưa với mẹ và cán bộ: "Cái mắt mình chết, nhưng mình không chết. Ngày với mình cũng là đêm thôi, mình còn gùi được cả ban đêm nữa. Con mù mắt nhưng không mù trái tim!". Sự quyết tâm ấy đã phá bỏ mọi giới hạn thể xác.
Khẳng định qua những chiến công và kỷ lục phi thường
Lấy cây gậy tre làm "con mắt" dò đường, dựa vào thính giác và xúc giác cực kỳ nhạy bén cùng sự am hiểu núi rừng, Alăng Bhuôch đã biến điều không thể thành có thể:
Trong suốt 14 năm ròng rã (từ 1958 đến 1972) bám trụ các trạm giao liên, tuyến lửa Trường Sơn và khu vực giáp biên giới Lào, ông bền bỉ gùi trên lưng mỗi chuyến từ 30 đến gần 100kg hàng hóa. Theo tổng kết lịch sử và được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác nhận, ông đã vận chuyển tổng cộng 182 tấn hàng hóa, trong đó có 120 tấn vũ khí, đạn dược và 62 tấn lương thực. Đây là khối lượng hàng hóa khổng lồ mà ngay cả nhiều thanh niên khỏe mạnh bình thường cũng khó lòng đạt được trong điều kiện chiến tranh ác liệt.
Năm 1968, khi chiến trường cực kỳ khát đạn, ông là một trong những người xung phong nhận gùi loại đầu đạn tên lửa A12 nặng gần 100kg. Bất chấp bom đạn và kiệt sức, ông cùng đồng đội kiên cường bám tuyến suốt nhiều ngày đêm để đưa đạn về kịp cho bộ đội tiêu diệt quân thù.
Không chỉ là một chiến sĩ dân công huyền thoại trên tuyến lửa, sau ngày hòa bình, ông tiếp tục là người tiên phong hướng dẫn đồng bào Cơ Tu khai hoang làm lúa nước, ổn định đời sống, trở thành một biểu tượng trọn vẹn về lòng trung kiên và tinh thần phụ sự cho đất nước, buôn làng.
SƯU TẦM



