ALĂNG BHUÔCH, NGƯỜI CHIẾN SĨ MÙ VỚI TRÁI TIM NGỜI SÁNG TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN
Dù bị mù từ năm 10 tuổi, Alăng Bhuôch, người dân tộc Cơ Tu ở Quảng Nam (nay là TP Đà Nẵng), vẫn kiên cường tham gia cách mạng, gùi 182 tấn lương thực, vũ khí chi viện chiến trường trong suốt 14 năm (1958–1972). Bằng lòng yêu nước, ý chí phi thường và tinh thần vượt khó, ông trở thành tấm gương sáng về người chiến sĩ cách mạng trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại.

Sinh năm 1931, tại thôn Arung, xã Bhalêê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam (nay là xã A vương, TP Đà Nẵng); Alăng Bhuôch là người dân tộc Cơ Tu, một người con giàu lòng yêu nước, từng có những năm tháng cống hiến thầm lặng trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại.
Thuở nhỏ, Alăng Bhuôch có một cuộc sống vô cùng khó khăn. Năm lên mười tuổi, cha và anh trai lần lượt qua đời vì bạo bệnh. Không lâu sau, một trận ốm nặng khiến đôi mắt ông vĩnh viễn không còn nhìn thấy ánh sáng. Từ đó, thế giới của cậu bé chỉ còn lại bóng tối. Thế nhưng, bằng nghị lực phi thường, ông không đầu hàng số phận. Hằng ngày, ông lần theo bước chân mẹ vào rừng kiếm củi, lên nương làm rẫy, bẻ bắp, tuốt lúa để phụ giúp gia đình.
Khi đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, quê hương liên tiếp hứng chịu những trận bom tàn phá, nhiều thanh niên trong buôn làng lần lượt lên đường tham gia cách mạng. Dù đôi mắt không còn nhìn thấy, trái tim Alăng Bhuôch vẫn luôn hướng về Tổ quốc. Ông day dứt khi nghĩ mình không thể cầm súng chiến đấu như bao người khác. Nhưng rồi, ông nhận ra bản thân vẫn có thể góp sức bằng cách vận chuyển lương thực, vũ khí tiếp tế cho bộ đội.
Ông tha thiết xin mẹ cho mình tham gia tải đạn. Thương con, người mẹ một mực ngăn cản vì lo sợ đôi mắt mù lòa sẽ khiến ông gặp nguy hiểm giữa núi rừng hiểm trở. Trước sự ngăn cản của mẹ, ông chân thành thưa: “Con mù mắt nhưng không mù trái tim mà!”. Câu nói giản dị ấy đã lay động trái tim người mẹ. Cuối cùng, bà đành đồng ý để con trai lên đường thực hiện ước nguyện.
Năm 1958, Alăng Bhuôch chính thức tham gia cách mạng, đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển lương thực, hàng hóa chi viện cho chiến trường miền Nam. Với chiếc gùi trên vai, cây gậy dò đường trong tay, ông cùng hàng nghìn dân công vượt qua những cánh rừng già, những con dốc dựng đứng, những dòng suối sâu trên dãy Trường Sơn để đưa hàng hóa đến các đơn vị bộ đội.
Những ngày đầu, công việc vô cùng gian nan. Không nhìn thấy đường, ông phải lần theo bước chân đồng đội, dùng đôi tai thính nhạy để nhận biết âm thanh, dùng cây gậy dò từng đoạn đường. Sau hơn ba tháng kiên trì, ông dần quen với từng lối mòn, từng con dốc, từng khúc quanh của núi rừng. Suốt năm năm, từ 1958 đến 1962, ông miệt mài gùi hàng tấn lương thực qua các con dốc Apác, đèo Coong Zờng, sông Lăng, dốc Ch’zách, Ch’rếch và núi Tr’hy để tiếp tế cho bộ đội.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Đến năm 1963, ông chuyển sang vận chuyển vũ khí, đạn dược. Năm 1967, ông được điều động bổ sung vào Đoàn Trung Sơn thuộc Tỉnh đội Quảng Nam, làm nhiệm vụ tại kho 31, hang Khỉ, dưới chân dốc Alơơl, khu vực giáp ranh giữa huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam và huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông là vào năm 1968, khi chiến trường đang rất cần vũ khí, đạn dược. Trước yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ, cấp trên thông báo cần những người tình nguyện vận chuyển loại đầu đạn A12 nặng gần 100 kg. Không chút do dự, Alăng Bhuôch xung phong nhận nhiệm vụ. Quyết tâm của người chiến sĩ mù khiến đồng đội vô cùng khâm phục và thêm vững tin.
Trong suốt năm ngày sáu đêm liên tục, không ngủ nghỉ, ông cùng đồng đội gùi những kiện hàng nặng vượt qua núi cao, vực sâu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chưa dừng lại ở đó, trước nhu cầu cấp thiết của chiến trường, ông tiếp tục tình nguyện vận chuyển đạn dược suốt ba tháng ròng rã, gần như không có ngày nghỉ. Dù đường rừng hiểm trở, dù đôi chân nhiều lần mỏi nhừ, ông vẫn kiên trì bước đi, đưa từng chuyến hàng đến nơi an toàn.
Với những thành tích xuất sắc, Alăng Bhuôch được trao tặng danh hiệu Chiến sĩ Thi đua toàn quốc và được cử đi báo cáo điển hình. Đặc biệt, trong suốt 14 năm, từ năm 1958 đến năm 1972, nếu tính trung bình mỗi ngày đêm ông vận chuyển khoảng 50 kg hàng hóa, tổng khối lượng hàng ông đã gùi ước tính lên đến 182 tấn, trong đó có 120 tấn vũ khí, đạn dược và 62 tấn lương thực. Những con số ấy là minh chứng cho sức chịu đựng phi thường, ý chí kiên cường và lòng yêu nước sâu sắc của người chiến sĩ Cơ Tu.
Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất cùng nhiều bằng khen của UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Không chỉ là một người chiến sĩ giàu lòng yêu nước, Alăng Bhuôch còn là nghệ nhân tài hoa của dân tộc Cơ Tu. Ông biết chế tác nhiều loại nhạc cụ truyền thống độc đáo như đàn brêê, abel. Tiếng đàn của ông khi trầm lắng, sâu xa như tiếng vọng đại ngàn, khi trong trẻo, ngân vang như tiếng chim rừng, góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương.
Sau những năm tháng chiến tranh gian khổ, trở về cuộc sống đời thường, dù tuổi cao, đôi mắt không còn ánh sáng, ông vẫn cần mẫn lao động, xúc đất, dọn vườn, đào ao thả cá để cải thiện cuộc sống. Hình ảnh người chiến sĩ năm xưa nay vẫn miệt mài lao động giữa núi rừng là biểu tượng đẹp về nghị lực sống, tinh thần lạc quan và phẩm chất cao quý của người lính cách mạng.
Câu chuyện về Alăng Bhuôch đã trở thành niềm tự hào của đồng đội và đồng bào Cơ Tu. Trước những cống hiến đặc biệt của ông, Huyện ủy Tây Giang đã lập tờ trình đề nghị cấp trên xem xét phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nhằm ghi nhận và tôn vinh những đóng góp của người con ưu tú nơi đại ngàn.
Cuộc đời Alăng Bhuôch là minh chứng sâu sắc cho chân lý: Đôi mắt có thể không nhìn thấy ánh sáng, nhưng trái tim yêu nước vẫn có thể soi đường, dẫn lối cho con người vượt qua mọi gian nan, thử thách. Hình ảnh người chiến sĩ mù gùi đạn trên đường Trường Sơn mãi là tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần cống hiến cho các thế hệ hôm nay và mai sau.


