Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

áng ngời ý chí kiên trung của người con gái đất Thành đồng

Thái Nguyên09/06/2026Lỗ Ngọc Phương (GDTH K58 CLC, Khoa GDTH, Trường ĐHSP - ĐHTN)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sáng ngời ý chí kiên trung của người con gái đất Thành đồng

Trong dòng chảy vĩ đại của lịch sử dân tộc Việt Nam, thế hệ sau thường nghiêng mình kính cẩn trước những bậc đại trượng phu xông pha trận mạc, nhưng cũng không thể nào quên những người phụ nữ kiên cường, dùng cả cuộc đời để dệt nên hình hài Tổ quốc. Một trong những biểu tượng kiên trung, một nốt nhạc trầm hùng bất khuất của cách mạng Nam Kỳ chính là đồng chí Nguyễn Thị Lựu (tên khai sinh là Đỗ Thị Thưởng). Sinh năm 1909 tại vùng quê Cao Lãnh, Đồng Tháp trong một gia đình khá giả, nhưng tuổi thơ bảy năm sống cùng gia đình mẹ nuôi tá điền nghèo khó đã gieo vào lòng người con gái ấy sự thấu cảm sâu sắc với kiếp sống lầm than của người lao động. Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, sự bóc lột tàn nhẫn của thực dân Pháp và bọn địa chủ, Nguyễn Thị Lựu đã sớm nung nấu ý chí dấn thân để thay đổi vận mệnh đất nước.

Con đường cách mạng của người thiếu nữ ấy bắt đầu bùng cháy từ năm 1927 khi bước chân lên Sài Gòn học tập, lôi cuốn bởi không khí sục sôi của các phong tào yêu nước và đám tang cụ Phan Châu Trinh. Chỉ một năm sau, ở tuổi 18 rực rỡ, bà thoát ly gia đình, gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và cùng đồng chí Lý Tự Trọng phụ trách đường dây liên lạc quốc tế tại Khánh Hội. Bằng trí tuệ sắc sảo và lòng quả cảm, bà liên tục bám trụ qua nhiều địa bàn hiểm trở, từ Cần Thơ đến Mỹ Tho, chính thức được kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng năm 1929 và được bổ sung vào Xứ ủy Nam Kỳ năm 1931. Giữa giông bão thời cuộc, tình yêu đôi lứa của bà hòa cùng tình yêu lý tưởng khi nhận lời hứa hôn với đồng chí Nguyễn Văn Hanh – Phó Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho. Thế nhưng, bi kịch ập đến vào tháng 5 năm 1931, bà bị mật thám Pháp bắt giam vào Khám Lớn Sài Gòn. Suốt 5 năm tù đày, trước những trận đòn tra tấn tàn bạo "chết đi sống lại" của kẻ thù, người con gái ấy vẫn giữ vững khí tiết kiên trung của người cộng sản. Đau đớn hơn cả, ngày bước chân ra khỏi ngục tù năm 1936, bà mới hay tin người chồng hứa hôn của mình đã anh dũng hy sinh trong chuyến vượt ngục Côn Đảo cùng đồng chí Ngô Gia Tự từ hai năm trước. Nén nỗi đau tột cùng thành hành động, bà tiếp tục lao vào bão táp: viết báo công khai, bị bắt lần thứ hai, rồi lại vượt ngục Bà Rá ngay đêm Nhật đảo chính Pháp để hòa vào dòng người Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Suốt những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau đó, dù ở chiến trường Nam Bộ hay khi tập kết ra Bắc giữ các chức vụ cao cấp của Mặt trận Tổ quốc và Quốc hội, bà vẫn bền bỉ cống hiến cho đến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.

Đọc lại những trang sử vàng về cuộc đời đồng chí Nguyễn Thị Lựu, trong lòng mỗi chúng ta không khỏi dâng lên niềm khâm phục và xúc động sâu sắc trước một nhân cách vĩ đại. Ở cái tuổi đôi mươi đẹp nhất của người con gái, khi người ta mơ về một mái ấm bình yên, bà đã chọn đứng vào nơi đầu sóng ngọn gió, đối mặt với hệ thống nhà tù khét tiếng từ Khám Lớn đến Bà Rá. Ý chí sắt đá của bà minh chứng cho một chân lý: thể xác có thể bị gông cùm, nhưng lòng yêu nước và lý tưởng tự do thì không một thứ cường quyền nào có thể khuất phục. Câu chuyện cuộc đời bà còn để lại một khoảng lặng đầy lay động về sự hy sinh và lòng thủy chung son sắt. Mối tình dang dở với người đồng chí miền Nam là một vết thương lòng rớm máu, nhưng thay vì gục ngã, bà đã biến nó thành ngọn lửa, tiếp tục chiến đấu cho phần đời của cả người đã khuất. Đó là một tình yêu cao thượng, hòa quyện chặt chẽ với tình yêu giang sơn, xã tắc.

Tóm lại, hơn 60 năm cuộc đời cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của đồng chí Nguyễn Thị Lựu là tấm gương sáng ngời, kết tinh trọn vẹn tám chữ vàng mà Bác Hồ ban tặng: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Bà đã tạ thế vào năm 1988, nhưng tên tuổi và tinh thần cách mạng của bà vẫn còn sống mãi, được trân trọng đặt cho những mái trường, những con đường trên quê hương Cao Lãnh hôm nay. Đứng trước lịch sử hào hùng ấy, thế hệ trẻ tự hiểu rằng hòa bình và tự do ngày nay được đánh đổi bằng cả thanh xuân, hạnh phúc và máu xương của những người đi trước, từ đó nhắc nhở bản thân phải sống có lý tưởng, trách nhiệm để xứng đáng với quá khứ vẻ vang của cha ông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn