Bài viết

ÁNH ĐÈN BÊN CHIẾN TRẬN

Quảng Trị03/08/2026Đoàn xã Tân Minh (Tân Minh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – ÁNH ĐÈN BÊN CHIẾN TRẬN

“Mẹ ơi con bước vào trang sử

Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca

Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà

Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”

Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.

Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi... 71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

   Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Một số hình ảnh nhân chứng lịch sử cựu chiến binh Phạm Trí Liên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – CHUYỆN MỘT NGƯỜI ANH HÙNG

      85 tuổi đời, gần 60 năm “nhìn đời” bằng đôi mắt giả, nhưng trái tim người lính Cụ Hồ vẫn luôn ấm áp để làm điểm tựa giữa đời thường.

http://doanthanhnien.vn/uploads/old/134054880941328001_2.jpg

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Anh hùng Lực lượng vũ trang - Lê Hữu Trạc

 

1.000 ngày giữ đảo

      Như những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi cùng thế hệ, năm 1962, chàng thanh niên Lê Hữu Trạc nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341 đóng quân ở Vĩnh Linh, Quảng Trị với nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến.

Năm 1965, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, đảo Cồn Cỏ, được mệnh danh là “mắt thần” của miền Bắc trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ. Để bảo vệ “mắt thần”, Đại đội Lê Hồng Phong được lệnh cử một trung đội ra Cồn Cỏ.

      “Lúc này, hàng ngày các tàu khu trục, tàu tuần dương bao vây đảo và trên đầu là máy bay quần thảo, nhiệm vụ rất gian khổ và hiểm nguy nhưng ai cũng mong được ra Cồn Cỏ. Để “cạnh tranh” cùng các đơn vị khác, tôi là Trung đội phó, Bí thư chi bộ đã họp tổ Đảng và trình bày sáng kiến cạo trọc đầu để tiết kiệm tối đa nước ngọt gội đầu khi ra đảo. Với lòng quyết tâm và sáng kiến đó, trung đội “cạo trọc” của chúng tôi đã được chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong lựa chọn ra giữ đảo Cồn Cỏ”, ông Trạc nhớ lại.

Và đêm mùa hè tháng 7/1965, giữa muôn trùng sóng gió và sự bao vây của máy bay, tàu chiến địch, Trung đội 3 vượt 17 hải lý và đặt chân lên đảo tiền tiêu. Gần 1.000 ngày giữ đảo, ông không thể nhớ hết có bao nhiêu trận bom, bao nhiêu cuộc chiến. Dưới mưa bom bão đạn, hòn đảo có khi không còn một bóng cây, mặt đất bị cày đi xới lại. Vừa chiến đấu, ông và đồng đội vừa đào công sự, hầm hào. Có những thời điểm ác liệt, tiếp tế nhu yếu phẩm từ đất liền gián đoạn, họ phải sống cầm hơi, chặt chuối rừng vắt nước uống. Người lính này hy sinh, người lính khác xông lên thay thế. Nhiều đồng đội của ông đã ngã xuống và thân xác mãi nằm lại trên đảo.

     “Sau này, tôi nghe lịch sử thống kê lại từ năm 1964-1968, có trên 1,3 vạn quả bom và hàng vạn quả rốc két ném xuống Cồn Cỏ; 172 lần tàu chiến bắn trên 4 nghìn quả đạn pháo lên đảo. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sĩ hứng chịu gần 40 tấn bom đạn và mỗi ha đất là 22,6 tấn. Còn lúc đó, chúng tôi chỉ biết ngày nào cũng bom rơi đạn nổ. Cồn Cỏ vô cùng ác liệt, nhưng phía sau chúng tôi có cán bộ, nhân dân Vĩnh Linh anh hùng, tình nghĩa sẵn sàng xung phong tiếp tế cho đảo. Tôi nhớ cụ Thục, tuổi ngoài 60, là “chuyên gia” theo dõi thời tiết. Mọi chuyến tiếp tế ra đảo hay đưa thương binh vào đất liền nhờ cụ mà “thuận buồm xuôi gió”, Cồn Cỏ nhờ đó mà vững vàng đến ngày chiến thắng!”, ông Trạc bồi hồi kể lại.

Mùa xuân năm 1968, ông được điều động vào đất liền, chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong với mục tiêu chặn đứng đường tiếp viện của địch lên chiến trường Khe Sanh. Đánh chặn tàu địch ở Cửa Việt, đánh sập cầu Bến Ngự, tiêu diệt đại đội thủy quân lục chiến, bắt sống trung úy Mỹ…, những sự kiện vang dội được ông kể lại một cách giản dị. Tháng 8/1968, khi là Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, E270, Quân khu 4, trong một chuyến trinh sát trận địa ở phía Tây Vĩnh Linh để chống địch đổ bộ bằng đường không, ông bị vướng bom nổ chậm, chiến sĩ liên lạc đi cùng hy sinh tại chỗ còn ông bị hất tung và vỡ nhãn cầu cả 2 mắt...

Điểm tựa giữa đời thường

       Thương tích quá nặng, dũng sĩ Lê Hữu Trạc được đưa ra tuyến sau điều trị. 2 mắt bị hỏng, ông phải lắp mắt giả. Vĩnh viễn không thể trở lại chỉ huy chiến trường khi chỉ vừa 28 tuổi, nỗi buồn canh cánh trong lòng ông. Nhưng may mắn trong những ngày ở Trại an dưỡng Ba Vì, ông gặp cô gái quê Hà Tây Kim Thị Mão, vì cảm phục và yêu quý chàng trai Quảng Bình anh hùng, chất phác nên đã nhận lời yêu và làm vợ người thương binh “tàn nhưng không phế”. Năm 1972, cô gái Hà Tây dắt ông trở lại quê nhà Xuân Ninh và sống cuộc đời bình dị.

      Phần lớn hồi ức của cựu binh Lê Hữu Trạc là về đồng đội. Đó là những câu chuyện về Đảo trưởng Trần Văn Thà, thủ trưởng của hàng chục người lính được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND; là anh hùng Thái Văn A, Trần Văn Mật, là Đỗ Như Đệ, người liên lạc đã hy sinh trong chuyến trinh sát cùng ông… “Danh hiệu anh hùng của tôi được tô thắm bằng máu của đồng đội”, ông chia sẻ.

     Tri ân và nhớ thương đồng đội, tự hào về quá khứ, tin tưởng ở tương lai, ông tỏa ra thứ năng lượng ấm áp, thiện lương và chân thành. Nghe ông kể chuyện, nỗi xúc động, tự hào về quá khứ của quê hương, của các thế hệ cha anh, cứ trào lên… Cuộc đời bi tráng và giản dị của Anh hùng LLVTND Lê Hữu Trạc và những đồng đội của ông, như câu thơ của nhà thơ Hồng Thanh Quang, chính là điểm tựa cho thế hệ hậu sinh không bị lạc lối giữa những cám dỗ đời thường.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn