Bài viết

Ánh đèn bên chiến trận-Liệt sĩ Phạm Trí Liên

Câu chuyện kể về cuộc sống, chiến đấu và tình đồng đội cao đẹp của các chiến sĩ trẻ tại chiến trường ác liệt, tiêu biểu là liệt sĩ Phạm Trí Liên. Dù trong mưa bom bão đạn, họ vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, sẻ chia từng giọt nước và ánh đèn (niềm tin, sự sống) giữa chiến hào, thể hiện sự hy sinh cao cả vì độc lập dân tộc.

Gia Lai05/07/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn

cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng

giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi

chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy

sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến

oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy

Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới,

những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim

cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.

“Mẹ ơi con bước vào trang sử

Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca

Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà

Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân

đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của

quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai

Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường

Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập

ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt

với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có

đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi

chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy

mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường

tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con

đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục

km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa

thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường

đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận

phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông

là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối

um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ

chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận

địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi

trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế

bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít

xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối

10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường

chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ,

chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng

Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế

hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng

này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung

với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn

cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến

dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu

năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm

49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với

mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ

quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”.

Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh

dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ

Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất

nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa

hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện

nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày

anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu",

cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung

đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch,

ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân

Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối

160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt

được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần,

quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm

pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý

định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai

đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được

chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ

mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm

cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu

anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo,

ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà

thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế

mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục

hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các

đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho

trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường

như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông

cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi... 71

năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về

một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề

xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã

dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu,

chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu

nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện

của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ

trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao

giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ

sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên

nghẹn ngào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn