Ánh đèn bên chiến trận- Phạm Trí Liên
“Mẹ ơi con bước vào trang sử
Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca
Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà
Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”
Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.
“Mẹ ơi con bước vào trang sử
Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca
Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà
Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”
Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.
Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.
Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi…
71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.
TIẾP NỐI TRUYỀN THỐNG
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, có những thời khắc được gọi là “thời hoa lửa” – nơi con người phải sống và chiến đấu giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Nhưng chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, vẻ đẹp anh hùng của con người Việt Nam lại tỏa sáng rực rỡ như “ánh đèn bên chiến trận”, soi đường cho các thế hệ mai sau. Truyền thống anh hùng ấy không chỉ dừng lại ở quá khứ mà còn được tiếp nối qua từng thế hệ bằng những con người cụ thể, những hành động cao cả và đầy ý nghĩa.
Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, tinh thần ấy được thể hiện rõ nét qua tấm gương của Phan Đình Giót. Tại Chiến dịch Điện Biên Phủ, khi quân ta bị hỏa lực địch khống chế, anh đã không ngần ngại lao mình lên, lấy thân mình lấp lỗ châu mai để tạo điều kiện cho đồng đội xung phong. Hành động ấy là đỉnh cao của lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh, góp phần làm nên chiến thắng vang dội của dân tộc. Sự hy sinh của anh không chỉ mang ý nghĩa cá nhân mà còn trở thành biểu tượng cho ý chí kiên cường, cho tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Chính từ những con người như vậy, truyền thống anh hùng được hình thành và lan tỏa mạnh mẽ.
Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, truyền thống ấy tiếp tục được nối dài qua những con người kiên trung như Nguyễn Văn Trỗi. Là một chiến sĩ biệt động Sài Gòn, anh tham gia nhiệm vụ ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nhằm góp phần chống lại sự xâm lược. Dù bị bắt và đứng trước cái chết, anh vẫn hiên ngang, không hề run sợ, kiên quyết giữ vững lý tưởng cách mạng. Trước pháp trường, hình ảnh Nguyễn Văn Trỗi với lời hô vang đầy khí phách đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Anh đã chứng minh rằng, truyền thống anh hùng không chỉ nằm ở hành động chiến đấu mà còn thể hiện ở bản lĩnh, ở sự kiên định niềm tin ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.
Không chỉ những người trực tiếp cầm súng, truyền thống ấy còn được tiếp nối qua những con người bình dị mà vĩ đại như Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Tại tuyến đường trọng điểm Ngã ba Đồng Lộc, nơi bom đạn kẻ thù trút xuống ngày đêm, mười cô gái thanh niên xung phong vẫn kiên cường bám trụ, san lấp hố bom, giữ cho mạch máu giao thông luôn thông suốt. Dù tuổi đời còn rất trẻ, họ đã không ngại hy sinh, dâng hiến cả tuổi xuân cho đất nước. Sự hy sinh của các chị là minh chứng cho một dạng anh hùng khác – anh hùng trong thầm lặng, trong những công việc tưởng chừng giản dị nhưng vô cùng lớn lao. Chính họ đã góp phần làm nên sức mạnh bền bỉ của dân tộc trong những năm tháng gian khổ.
Từ những tấm gương như Phan Đình Giót, Nguyễn Văn Trỗi đến Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc, có thể khẳng định rằng truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam luôn được kế thừa và phát huy qua từng thời kỳ. Ngày nay, trong thời bình, thế hệ trẻ không còn đối mặt với bom đạn nhưng vẫn phải đối diện với nhiều thử thách mới. Việc học tập, rèn luyện, cống hiến cho xã hội chính là cách thiết thực nhất để tiếp nối truyền thống ấy. Khi mỗi người biết sống có lý tưởng, có trách nhiệm, thì “ánh đèn bên chiến trận” năm xưa sẽ vẫn tiếp tục tỏa sáng, soi đường cho dân tộc bước tới tương lai.



