Anh đèn giữa trường sơn
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
“Ánh đèn giữa Trường Sơn”
Tác giả: Hoàng Thị Phượng – PBT Đoàn xã Đông Thành
THÔNG TIN NHÂN VẬT
Họ và tên: Nguyễn Văn Lạc - sinh năm 1942
Đơn vị: Đại đội Thanh niên xung phong 317, thuộc Tổng đội Thanh niên xung phong Nghệ An
Chức vụ trong khi tham gia chiến đấu : Tiểu đội trưởng
Tham gia chiến đấu: Chỉ huy tiểu đội san lấp hố bom, bảo đảm thông xe trên tuyến Đường Trường Sơn
Hiện nay: Cựu TNXP
“Ánh đèn giữa Trường Sơn”
Tôi là một thanh niên xung phong thuộc lực lượng mở đường trên tuyến Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Đến bây giờ, khi mái tóc đã bạc trắng, mỗi lần nghe tiếng ve gọi hè hay nhìn những hàng phượng đỏ nở rực, tôi lại nhớ về một đêm không bao giờ quên – đêm mà tôi hiểu thế nào là tình đồng đội và giá trị của sự hy sinh.
Đó là vào mùa mưa năm 1972. Đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ san lấp một đoạn đường vừa bị máy bay Mỹ ném bom để kịp cho đoàn xe chở lương thực và đạn dược vào chiến trường miền Nam. Ban ngày máy bay địch quần thảo liên tục, nên công việc chỉ có thể tiến hành vào ban đêm.
Đêm ấy, trời tối như mực, mưa rừng xối xả. Mỗi người chỉ có một chiếc cuốc, một chiếc xẻng và ánh đèn pin được che kín bằng một mảnh vải nhỏ để tránh máy bay phát hiện. Ai cũng mệt sau nhiều ngày thức trắng, nhưng không một lời than vãn. Chúng tôi chỉ động viên nhau bằng những câu nói rất giản dị: "Cố lên, đường thông thì xe mới vào được chiến trường."
Khi công việc gần hoàn thành thì bất ngờ tiếng máy bay gầm rú trên đầu. Một loạt bom trút xuống. Đất đá tung mù mịt. Chúng tôi lao xuống hầm trú ẩn. Khi tiếng bom vừa dứt, cả đơn vị điểm danh thì phát hiện Lan – cô gái trẻ nhất đại đội – vẫn còn mắc kẹt ở hố bom vì bị một thân cây lớn đè lên chân.
Không ai bảo ai, tất cả đều lao ra giữa làn khói bụi. Mỗi người một tay đào đất, nhấc cây, bất chấp máy bay có thể quay lại bất cứ lúc nào. Sau gần nửa giờ, chúng tôi đưa được Lan ra ngoài. Chân cô bị thương rất nặng nhưng điều đầu tiên cô nói không phải là đau, mà là: "Đường đã thông chưa các anh, các chị?"
Câu hỏi ấy khiến tất cả chúng tôi lặng đi. Sau khi cáng Lan về trạm quân y, cả đơn vị lại quay trở lại hiện trường, tiếp tục san lấp những hố bom còn dang dở. Gần sáng, đoàn xe vận tải nối đuôi nhau vượt qua đoạn đường vừa được sửa chữa. Những ánh đèn gầm xe hắt xuống mặt đường còn lấm bùn, soi rõ những gương mặt đen nhẻm nhưng rạng ngời niềm vui của chúng tôi.
Sau này tôi mới biết, Lan phải cắt bỏ một phần chân vì vết thương quá nặng. Thế nhưng trong những lá thư gửi về đơn vị, cô luôn viết rằng mình không hề hối tiếc, chỉ mong đất nước sớm hòa bình để không còn người mẹ nào phải tiễn con ra trận.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhiều đồng đội của tôi mãi mãi nằm lại trên dãy Trường Sơn. Mỗi lần trở lại nghĩa trang liệt sĩ, thắp nén hương trước những hàng bia trắng, tôi lại nhớ đến đêm mưa năm ấy. Chính những con người bình dị, những thanh niên mới mười tám, đôi mươi, đã lấy tuổi xuân và cả máu xương của mình để giữ cho những con đường không bao giờ tắt, để những đoàn xe tiếp tục tiến về phía trước.
Đối với tôi, ký ức ấy không chỉ là một kỷ niệm thời chiến mà còn là bài học lớn nhất của cuộc đời: lòng yêu nước không phải là những lời nói lớn lao, mà được thể hiện bằng sự dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và tình đồng chí, đồng đội sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đó chính là ngọn lửa của một thời hoa lửa vẫn luôn cháy sáng trong trái tim những người thanh niên xung phong chúng tôi.
.



