Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng A Tranh

A Tranh (tức A Niếc) sinh năm 1924, dân tộc Xê Đăng, quê ở xã Đắc Uy thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum; trú quán xã Đắc Uy, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum, tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1964, trong kháng chiến chống Pháp (1949 - 1954) đồng chí là chủ tịch kiêm xã đội trưởng xã Đắc Uy. Trong kháng chiến chống Mỹ (1964 - 1970), đồng chí là chính trị viên phó huyện 16 (Kon Rẫy). Năm 1975, A Tranh chuyển ngành, năm 1983 đồng chí nghỉ hưu tại địa phương, đảng viên Đảng Cộng sản Việ

03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

A Tranh (tức A Niếc) sinh năm 1924, dân tộc Xê Đăng, quê ở xã Đắc Uy thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum; trú quán xã Đắc Uy, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum, tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1964, trong kháng chiến chống Pháp (1949 - 1954) đồng chí là chủ tịch kiêm xã đội trưởng xã Đắc Uy. Trong kháng chiến chống Mỹ (1964 - 1970), đồng chí là chính trị viên phó huyện 16 (Kon Rẫy). Năm 1975, A Tranh chuyển ngành, năm 1983 đồng chí nghỉ hưu tại địa phương, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


A Tranh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Đắc Uy, thị xã Kon Tum, mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1945 vừa tròn 16 tuổi đồng chí đã tham gia du kích xã rồi làm xã đội trưởng, liên tục chỉ huy du kích đánh giặc giữ làng, cùng nhân dân vận động con em đi lính cho Pháp trở về với buôn làng.


Từ năm 1949 đến năm 1954, với cương vị chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng, A Tranh được giao nhiệm vụ bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở, xây dựng đội du kích xã vững mạnh, củng cố phong trào cách mạng ở địa phương. Mặc dù bị địch kiểm soát gắt gao, lùng sục, bắt bớ nhứng người chúng cho là "Cộng sản nằm vùng", nhưng với ý chí cách mạng kiên cường, đồng chí đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng và đội du kích. A Tranh đã góp sức củng cố phong trào ở địa phương ngày càng vững mạnh. Đồng chí đã lãnh đạo quần chúng cách mạng đứng lên phá bung áp chiến lược, giải phóng hơn 600 đồng bào khỏi ách kìm kẹp của địch trở về xây dựng vùng căn cứ cách mạng.


Tháng 3 năm 1964, A Tranh được giao nhiệm vụ chính trị viên phó huyện đội 16, là đơn vị mới thành lập còn gặp nhiều khó khăn, địch lại đánh phá ác liệt, đồng chí đã nhanh chóng cùng ban chỉ huy huyện đội củng cố và phát triển lực lượng, chỉ huy đơn vị đánh địch quyết liệt. Quá trình tham gia cách mạng, đồng chí đã trực tiếp chiến đấu 104 trận lớn nhỏ, diệt 70 tên địch, có 20 tên Mỹ, bắn cháy 2 máy bay L.19.


Đặc biệt năm 1966, trong chiến dịch Bắc Kon Tưm, địch sử dụng hơn 8000 quân càn vào căn cứ lõm H16, hòng hủy diệt đồng bào các dân tộc ở đây và đẩy lùi các lực lượng của ta ra ngoài, A Tranh đã chỉ huy đơn vị đánh trả quyết liệt, có ngày tới 15 trận, diệt hàng trăm tên địch, giữ vững căn cứ. Chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968, đồng chí trực tiếp chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ chặn đánh giao thông trên đường 14, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Năm 1970, A Tranh được ra miền Bắc học tập, năm 1975 trở về quê hương tiếp tục làm cán bộ huyện, năm 1983 nghỉ hưu.


Trong 10 năm làm cán bộ chủ chốt của huyện A.Tranh đã mang hết sức lực và tâm huyết góp phần xây dựng huyện vững mạnh toàn diện (xã Đắc Uy và huyện 16 được tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).


Từ ngày nghỉ hưu đến nay đồng chí vẫn giữ vững và phát huy tốt phẩm chát cách mạng của người đảng viên.


A Tranh được tặng thưởng 12 Huân chương các loại (trong đó, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất). 2 lần là Chiến sĩ thi đua của Miền và Mặt trận Tây Nguyên.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, A Tranh được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn