Anh hùng Lực lượng vũ trang

ANH HÙNG ALĂNG BHUÔCH – “HÙM XÁM KHIẾM THỊ” VÀ Ý CHÍ GÙI NÚI, CÕNG ĐẠO KHẮP ĐẠI NGÀN TRƯỜNG SƠN

Vĩnh Long14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

ANH HÙNG ALĂNG BHUÔCH – “HÙM XÁM KHIẾM THỊ” VÀ Ý CHÍ GÙI NÚI, CÕNG ĐẠO KHẮP ĐẠI NGÀN TRƯỜNG SƠN

Đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã chứng kiến biết bao huyền thoại kỳ vĩ. Nhưng có lẽ, câu chuyện về một người con của đồng bào Cơ Tu, dẫu đôi mắt chìm vào bóng tối vĩnh viễn từ thuở ấu thơ nhưng vẫn hiên ngang băng đèo vượt suối, cõng trên lưng hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược xé toạc bom đạn kẻ thù là điều có một không hai trong lịch sử quân sự thế giới. Người anh hùng khiếm thị huyền thoại ấy chính là Alăng Bhuôch (hay Alăng Bhuốch) — người đã dùng đôi chân trần và ý chí gang thép để dệt nên một thiên anh hùng ca bất tử giữa lòng miền Tây xứ Quảng, biến chiếc gậy tre thô sơ thành “đôi mắt thần” dẫn đường ra tiền tuyến.

Đồng chí Alăng Bhuôch sinh năm 1931 tại làng A Dứt, xã A Vương (về sau chuyển sang làng A Ruung, xã BhaLêê), huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. Cuộc đời ông nhuốm màu gian truân từ thuở nhỏ khi cha mất sớm năm ông lên 7 tuổi. Chỉ hai năm sau đó, một trận bạo sởi kéo dài đã cướp đi vĩnh viễn ánh sáng từ đôi mắt của cậu thiếu niên Cơ Tu đầy nghị lực khi mới 9 tuổi.

Không đầu hàng số phận tăm tối, Alăng Bhuôch nằng nặc đòi mẹ dắt lên nương rẫy tập chặt củi, ra suối gùi nước. Với chiếc gậy tre thô sơ làm “đôi mắt thứ hai” dò đường, trải qua hàng ngàn lần vấp ngã đau đớn, trầy xước cả cơ thể, ông đã tự rèn luyện cho mình một đôi tai nhạy bén phi thường và khả năng ghi nhớ sơ đồ đường rừng chuẩn xác đến từng hòn đá, rễ cây.

Năm 1958, khi Huyện ủy Tây Giang phát động phong trào dân công tải lương, tiếp đạn phục vụ bộ đội và du kích đánh giặc, chàng thanh niên Alăng Bhuôch khi đó 27 tuổi đã xung phong viết đơn xin tham gia. Thấy ông bị khiếm thị bẩm sinh lại nhỏ con, các cán bộ chỉ huy ban đầu đã từ chối.

Bằng cái bụng căm thù giặc ác như hổ báo và lý lẽ sắc bén:

“Giặc Mỹ dội bom phá làng đâu có chừa người mù, mình không thể ngồi yên, phải đi cõng đạn cho bộ đội ăn no đánh giặc!”

Ông đã thuyết phục hoàn toàn ban chỉ huy để bước vào hàng ngũ dân công hỏa tuyến. Giữa vùng đất giáp biên giới Việt - Lào hiểm trở, dốc cao vực thẳm, đường trơn như thoa mỡ vào mùa mưa, Alăng Bhuôch đã sáng tạo dùng các ống sắt đựng liều đạn pháo (đường kính 15cm, dài 109cm) để làm gùi chứa vũ khí phục vụ chiến trường.

Suốt 14 năm ròng rã vượt rừng Trường Sơn từ năm 1958 đến năm 1972, bằng đôi chân trần vững chãi, ông đã nâng dần sức nặng gùi hàng từ 30 – 50kg lên đến 70 – 80kg mỗi chuyến.

Đỉnh điểm vào chiến dịch năm 1968, trong suốt 3 ngày đêm, Alăng Bhuôch đã một mình cõng thân và đầu súng DKZ nặng hơn 100kg (gấp đôi trọng lượng cơ thể) băng rừng vượt dốc tai mèo từ Quảng Bình vào Quảng Nam an toàn. Tính chung đến năm 1972, người dân công khiếm thị ấy đã vận chuyển tổng cộng 182 tấn hàng hóa, bao gồm 120 tấn vũ khí, đạn dược và 62 tấn lương thực, thực phẩm.

Giai đoạn 1973 – 1975, do thông thạo địa hình bẩm sinh, ông tiếp tục được tin tưởng giao trọng trách gùi từ 50 – 80kg vũ khí xuyên qua các lối mòn hiểm trở sát biên giới Lào để chi viện cho bộ đội ta. Không chỉ cõng hàng giỏi, với đôi tai “thính hơn tai hoẵng”, Alăng Bhuôch từng phát hiện tiếng động cơ máy bay địch từ xa, hô hoán toàn đội lánh nạn kịp thời vào hang đá, cứu thoát hàng chục tấn vũ khí và tính mạng đồng đội khỏi bom rải thảm của giặc Mỹ.

Sau ngày đất nước thống nhất, người cựu dân công huyền thoại xé rách bóng tối trở về với làng bản Tây Giang. Không dừng lại ở chiến công thời chiến, ông tiếp tục là người tiên phong đưa cây lúa nước vào sản xuất nông nghiệp tại vùng cao, giúp đồng bào Cơ Tu xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống. Ghi nhận những đóng góp phi thường vượt lên trên mọi giới hạn thể chất, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Ba.

Ngày 26 tháng 7 năm 2012, ông vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 2013, Sách Kỷ lục Việt Nam đã chính thức xác lập ông là "Dân công mù vận chuyển số lượng vũ khí, lương thực lớn nhất trong chiến tranh".

Vào ngày 2 tháng 11 năm 2015, Anh hùng Alăng Bhuôch đã trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 84 tuổi, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào. Hiện nay, chiếc ống đựng đạn bằng sắt — kỷ vật đồng hành cùng ông vẫn được trang trọng trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 5.

Anh hùng Alăng Bhuôch là biểu tượng tuyệt đẹp cho ý chí, nghị lực phi thường và tinh thần yêu nước cháy bỏng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung và người Cơ Tu nói riêng. Thân thể có thể khuyết tật, đôi mắt có thể chìm trong màn đêm, nhưng tâm hồn và lý tưởng cách mạng của ông lại sáng rực rỡ như sao khuê đỉnh Trường Sơn. Câu chuyện cuộc đời ông truyền đi bức thông điệp mạnh mẽ: Khi trái tim đã hòa cùng nhịp đập của Tổ quốc thì không một rào cản thể xác nào, không một thế lực bạo tàn nào có thể ngăn cản bước chân ta đi tới độc lập, tự do.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn