Anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ và ngọn lửa Tây Sơn
Tác giả: Vũ Nguyễn Hồng Ngọc

Nguyễn Huệ sinh năm 1753 tại vùng Tây Sơn, phủ Quy Nhơn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Ông người gốc họ Hồ, thuở nhỏ tên là Thơm, sau đổi tên thành Nguyễn Huệ, sinh ra trong gia đình có ba anh em. Nguyễn Huệ từ nhỏ đã bộc lộ tướng mạo phi thường với mái tóc xoăn, làn da sầm, đôi mắt sáng như chớp, tiếng nói sang sảng như tiếng chuông cùng tinh thần nhanh nhẹn, khỏe mạnh và vô cùng can đảm.
Năm 1771, khi mới 18 tuổi, chứng kiến cảnh lầm than cực khổ của người dân quê nhà và không chịu nổi sự chuyên quyền của Quốc phó Trương Phúc Loan, Nguyễn Huệ đã bàn bạc với anh là Nguyễn Nhạc và em là Nguyễn Lữ lên vùng Tây Sơn thượng đạo xây dựng căn cứ, dựng cờ khởi nghĩa. Tại đây, nhờ sách lược khôn khéo, phong trào của ba anh em nhanh chóng thu hút sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, giúp thế và lực của nghĩa quân Tây Sơn phát triển vượt bậc. Mùa thu năm 1773, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy đạo quân đánh chiếm thành Quy Nhơn, rồi lần lượt tiến đánh Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Thuận, làm chủ một vùng rộng lớn từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận.
Năm 1777, nghĩa quân Tây Sơn tiếp tục lấy thành Quy Nhơn làm căn cứ, nhiều lần tấn công giải phóng Gia Định và tiêu diệt thế lực Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Dù các tướng cũ lập Nguyễn Ánh làm chúa để chiếm lại Gia Định, nhưng đến năm 1783, Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Lữ lại mang quân Nam tiến truy kích tiêu diệt Nguyễn Ánh, buộc đối phương phải tháo chạy ra đảo Phú Quốc rồi Thổ Chu. Đầu năm 1784, Nguyễn Ánh sang Xiêm cầu viện, khiến Vua Xiêm sai hai tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 5 vạn quân thủy bộ cùng 300 chiến thuyền sang xâm lược. Nhận tin báo, Nguyễn Huệ đem đại binh vào Gia Định, chủ động dùng thuật giả thua rút lui để nhử giặc vào trận địa mai phục. Đêm 19 rạng ngày 20 tháng 1 năm 1785, khi quân Xiêm kéo vào Rạch Gầm – Xoài Mút, phục binh Tây Sơn từ các mặt bất ngờ tiến công quyết liệt, đánh tan tác 5 vạn quân giặc cùng 300 chiến thuyền, chỉ còn vài nghìn tên sống sót tháo chạy về nước. Sau chiến công này, năm 1786, Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lật đổ tập đoàn phong kiến họ Trịnh tồn tại hơn 250 năm, chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn và khôi phục nhà Hậu Lê, xóa bỏ tình trạng phân biệt Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài suốt hai thế kỷ.
Vì hèn kém và muốn bảo vệ ngai vàng, năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh, tạo cơ hội cho Vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân sang xâm lược nước ta. Trước họa xâm lăng, Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang tại Phú Xuân, lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức thống lĩnh 5 vạn đại quân tiến ra Bắc. Đến Tam Điệp, sau khi củng cố lực lượng, Vua Quang Trung mở tiệc khao quân và dõng dạc tuyên bố cho quân sĩ ăn Tết Nguyên đán trước, hẹn đến ngày mồng 7 tháng Giêng sẽ mở tiệc lớn tại thành Thăng Long. Đứng trước ba quân, ông đanh thép khẳng định ý chí "Đánh cho lịch sử muôn đời biết nước Nam anh hùng là có chủ". Đêm 30 Tết (25/01/1789), đạo quân chủ lực áp sát bao vây đồn Hà Hồi khiến quân Thanh hoảng sợ hàng phục. Mờ sáng mồng 5 Tết (30/01/1789), quân Tây Sơn đồng loạt tiến công mãnh liệt vào đồn Ngọc Hồi và Đống Đa, tiêu diệt hàng vạn quân địch, ép tướng chỉ huy Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử, rồi rầm rộ tiến vào thành Thăng Long đập tan hoàn toàn quân xâm lược.
Sau khi hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc, từ năm 1789 đến năm 1792, Vua Quang Trung tiếp tục thể hiện tư tưởng tiến bộ khi đề ra nhiều kế hoạch cải cách toàn diện về kinh tế, văn hóa, giáo dục và quân sự nhằm xây dựng đất nước, đồng thời chủ động tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại từ phương Tây. Tuy nhiên, khi các dự định đại xá và phát triển quốc gia đang trên đà thực hiện, ngày 15 tháng 9 năm 1792, Hoàng đế Quang Trung đột ngột qua đời. Sự ra đi của ông là một tổn thất vô cùng to lớn cho dân tộc Việt Nam ở cuối thế kỷ XVIII, nhưng tên tuổi và sự nghiệp lẫy lừng của vị anh hùng áo vải Tây Sơn vẫn mãi là ngọn đuốc sáng ngời trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.



