Anh hùng Bế Văn Đàn – Khí phách ngút trời nơi thung lũng Mường Pồn
Tháng 12 năm 1953, chiến dịch Điện Biên Phủ bước vào giai đoạn chuẩn bị cực kỳ căng thẳng. Đại đội của Bế Văn Đàn (dân tộc Tày) nhận nhiệm vụ bao vây, chặn đánh một tiểu đoàn lính cơ động tinh nhuệ của Pháp rút chạy từ Lai Châu về Điện Biên Phủ tại thung lũng Mường Pồn.
Quân Pháp cậy có pháo binh và máy bay yểm trợ liên tục dội bom, điên cuồng mở hàng chục đợt phản công hòng phá vòng vây. Tiếng bom nổ chát chúa, khói đạn mù mịt che khuất cả mặt trời. Đơn vị của Bế Văn Đàn kiên cường đánh trả nhưng quân số hao hụt nhanh chóng. Giữa trận đánh ác liệt, khẩu đội trưởng bị hy sinh, một khẩu trung liên bị kẹt, chỉ còn lại khẩu trung liên của chiến sĩ Nguyễn Văn Pình, nhưng đồng chí Pình cũng đã bị thương nặng.
Quân Pháp thấy hỏa lực của ta yếu đi liền hò hét nhau khép chặt vòng vây, tiến lên chiếm trận địa. Lúc này, địa hình xung quanh đã bị bom cày nát, trống trải, không có một gờ đất hay thân cây nào đủ vững để đặt chân súng trung liên. Nếu không bắn áp chế ngay, quân địch sẽ tràn lên và đại đội sẽ bị xóa sổ.
Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, Bế Văn Đàn, lúc này đang là liên lạc đại đội, đã lao qua mưa bom bão đạn đến bên Nguyễn Văn Pình. Không một chút do dự, anh quỳ rạp xuống đất, dùng hai tay ghì chặt hai chân súng trung liên đặt lên hai bờ vai gầy nhưng rắn rỏi của mình. Anh nghiến răng chịu đựng, hét lớn: "Kẻ thù trước mặt, đồng chí Pình, bắn đi!".
Đồng chí Pình run rẩy, xót thương đồng đội không nỡ bóp cò. Bế Văn Đàn nghiêm nét mặt, giục giã: "Hy sinh vì Đảng, vì nhân dân, bắn nhanh lên!". Luồng đạn xé gió phóng ra từ họng súng ngay sát tai Bế Văn Đàn, phản lực dữ dội từ vũ khí giật mạnh vào lồng ngực, máu từ tai anh chảy ra, nhưng anh vẫn đứng vững như một pho tượng đá cho đến khi quân địch bị đẩy lui. Bế Văn Đàn đã anh dũng hy sinh khi hai chân súng vẫn còn găm chặt trên bả vai, để lại tấm gương bất tử về sự quên mình vì tổ quốc.



