Anh hùng Bùi Ngọc Dương
Anh hùng Bùi Ngọc Dương
Bùi Ngọc Dương sinh ngày 15 tháng 2 năm 1943 tại Hà Nội. Năm 1954, ông theo gia đình tản cư lên vùng kháng chiến. Trở về Hà Nội, ông theo học tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Sau khi sự kiện Vịnh Bắc Bộ xảy ra, năm 1964, Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội đã phát động phong trào "Ba sẵn sàng" nhằm động viên đoàn viên, thanh niên Thủ đô hưởng ứng phong trào cách mạng và tham gia kháng chiến. Trong ba năm 1964, 1965 và 1966, phong trào "Ba sẵn sàng" đã thu hút hàng triệu đoàn viên, thanh niên trong nước tham gia. Nhằm hưởng ứng phong trào, sau khi tốt nghiệp ngành kỹ sư xây dựng tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội vào năm 1966, Bùi Ngọc Dương tình nguyện nhập ngũ và trở thành chiến sĩ của Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 7, Binh chủng Công binh.
Ngày 23 tháng 1 năm 1968, trong chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 – Khe Sanh hạ lệnh tiến công phá hủy cứ điểm Huội San. Đây là khu vực phòng ngự gồm 12 cứ điểm nhỏ, trung tâm là cứ điểm Tà Mây nằm sát biên giới Việt Nam – Lào, được hai tiểu đoàn của quân đội Hoa Kỳ chiếm giữ, có vị trí quan trọng trong hệ thống phòng ngự trên Đường 9 – Khe Sanh. Bùi Ngọc Dương được giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội khắc phục bãi vật cản, mở cửa mở để bộ binh và xe tăng đánh chiếm cứ điểm Tà Mây và toàn bộ khu vực phòng ngự Huội San. Với cương vị Trung đội phó, Bùi Ngọc Dương cùng Tiểu đoàn 2 đã hoàn thành việc đưa xe tăng và các lực lượng đến Đường 9 theo kế hoạch. Sau khi cửa mở đã thông, xe tăng Quân Giải phóng miền Nam nhanh chóng vượt cửa mở bắn sập các lô cốt và hỏa điểm của quân đối phương. Do lực lượng bộ binh chưa kịp vượt cửa mở để phối hợp với xe tăng nên lực lượng công binh của Tiểu đoàn 2 được lệnh phát triển tiến công.[6] Bùi Ngọc Dương đã tham gia chiến đấu và bị trúng đạn vào cánh tay phải và khiến cánh tay gần như rời ra khỏi cơ thể,[8] ông đã đề nghị Tiểu đoàn trưởng Hà Kim chặt đứt hẳn cánh tay của mình để tiếp tục chiến đấu. Nhờ hành động này, ông được mệnh danh là "La Văn Cầu của Hà Nội".
Sau khi nhiệm vụ hoàn thành, cộng với vết thương ở chân, Bùi Ngọc Dương không thể tự mình di chuyển và được đưa về trạm quân y tiền phương để cứu chữa. Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Đến ngày 27 tháng 1 năm 1968, Bùi Ngọc Dương qua đời vì mất máu do vết thương quá nặng.


