ANH HÙNG BÙI VĂN HỢP (LIỆT SĨ) (1)
Bùi Văn Hợp sinh năm 1950, dân tộc Mường, quê ở xã Vĩnh Đông, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Khi hy sinh, đồng chí là trung đội trưởng trinh sát, đại đội 4, trung đoàn 165 sư đoàn 7, Quân đoàn 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
ANH HÙNG BÙI VĂN HỢP (LIỆT SĨ)
Bùi Văn Hợp sinh năm 1950, dân tộc Mường, quê ở xã Vĩnh Đông, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Khi hy sinh, đồng chí là trung đội trưởng trinh sát, đại đội 4, trung đoàn 165 sư đoàn 7, Quân đoàn 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1969 đến năm 1972, Bùi Văn Hợp làm nhiệm vụ trinh sát, dù khó khăn ác liệt thế nào, đồng chí vẫn luôn luôn bám sát địch để nắm chắc tình hình, phục vụ cho đơn vị chiến đấu.
Ngày 8 tháng 4 năm 1970, ở đồi 95, tỉnh Công Pông Chàm (Cam-pu-chia), Bùi Văn Hợp chủ động đi điều tra nắm địch rồi dẫn đơn vị vào đánh, diệt được 22 xe quân sự của chúng.
Ngày 8 tháng 1 năm 1971, Bùi Văn Hợp đưa cán bộ đi nghiên cứu cụm quân địch ở Sóc Bồ Câu (tỉnh Công Pông Chàm); vì thấy động, địch bắn ra dữ dội, đồng chí đề nghị cho cán bộ rút về để tránh hy sinh tổn thất, còn mình ở lại tiếp tục nắm địch. Khi trận chiến đấu diễn ra, Bùi Văn Hợp chỉ từng mục tiêu cho đơn vị đánh, diệt 200 tên, phá hủy 10 xe quân sự.
Đặc biệt trong 3 ngày từ 19 đến 21 tháng 6 năm 1972, một tiểu đoàn địch tiến công sở chỉ huy trung đoàn của ta. Bùi Văn Hợp phụ trách một tổ đánh trả địch quyết liệt; bản thân sử dựng cả 4 loại vũ khí, tiểu liên, súng trường, B.40 và lựu đạn, cùng tổ đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, bảo vệ được sở chỉ huy trung đoàn. Trận này, đồng chí đã anh dũng hy sinh.
Bùi Văn Hợp luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, được cán bộ, chiến sĩ mến phục.
Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, 7 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ và 7 bằng khen, giấy khen.
Ngày 15 tháng năm 1976, Bùi Văn Hợp được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
ANH HÙNG NGÔ XUÂN THU (LIỆT SĨ)
Ngô Xuân Thu sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Nguyên Úy, huyện Kim Bảng, tỉnh Nam Hà. Khi hy sinh, đồng chí là trung đội phó công binh, đại đội 1, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1968 đến năm 1971, Ngô Xuân Thu làm nhiệm vụ đánh mìn phá giao thông địch trên đường số 1 (đoạn từ Đà Nẵng đến đèo Hải Vân). Mỹ - ngụy tăng cường càn quét bắn phá và dùng mọi thủ đoạn để bảo vệ tuyến đường này. Nhưng Ngô Xuân Thu luôn luôn suy nghĩ, tìm mọi cách gài mìn, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đồng chí góp phần tích cực cùng đơn vị phá hủy gần 100 đoàn tàu và xe quân sự, diệt trên 2000 tên địch. Riêng Ngô Xuân Thu phá hủy 17 đoàn tàu, 7 xe quân sự, 1 máy bay lên thẳng, diệt 195 tên.
Đầu năm 1969, để bảo vệ đoàn tàu sắp đi qua, địch thường đánh phá rất ác liệt hai bên đường giao thông. Vì thế, lối đánh đặt mìn điểm hỏa bằng điện của ta gặp trở ngại, dây dễ bị bom, pháo làm đứt, người ngồi điểm hỏa không an toàn. Ngô Xuân Thu đã nghĩ ra cách điểm hỏa bằng bẫy tự động (không cần người điểm hỏa) và tự mình đánh thử trận đầu, lật nhào một đoàn tàu có 9 toa chở đầy lính và hàng quân sự. Từ đó, đơn vị áp dụng sáng kiến của đồng chí và lần nào đánh cũng giành thắng lợi.
Bị đánh hỏng nhiều đoàn tàu, địch đối phó bằng cách cho hai toa chở đá nặng đi trước để làm cho mìn nổ, do đó đầu máy đi sau không hỏng và đoàn tàu không bị lật. Ngô Xuân Thu lại nghĩ ra cách đánh mới lật được hai đoàn tàu chở đầy vũ khí, diệt hàng trăm tên.
Trong trận tháng 4 năm 1971, Ngô Xuân Thu mưu trí dùng hai khối thuốc nổ, một khối đặt ở chân cầu để vừa phá cầu vừa đánh xe lửa, một khối đặt ở bãi trống gần đó để đánh máy bay dịch (đồng chí phán đoán có thể máy bay chúng sẽ đến và phải hạ cánh xuống bãi trống đó khi cầu đổ). Kết quả, Ngô Xuân Thu đã phá sập chiếc cầu dài 27 mét, lật nhào đoàn tàu chở đầy vũ khí và phá hủy 1 máy bay lên thẳng.
Ngày 25 tháng 11 năm 1971, sau khi đặt mìn, trên đường về gặp địch, mặc dù chúng đông gấp bội, Ngô Xuân Thu đã chỉ huy tổ chiến đấu diệt nhiều tên. Trận này, đồng chí đã anh dũng hy sinh. Hôm sau, quả mìn do Ngô Xuân Thu gài nổ tung, lật nhào một đoàn tàu 12 toa chở đầy lính và hàng quân sự.
Ngô Xuân Thu luôn luôn xung phong gương mẫu về mọi mặt, chấp hành kỷ luật nghiêm, đoàn kết nội bộ, đoàn kết với đơn vị bạn.
Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.
Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Ngô Xuân Thu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



