ANH HÙNG CAO XUÂN THỌ – NGƯỜI ĐỘI TRƯỞNG PHÁ BOM NỔ CHẬM KIÊN TRUNG NƠI "TẠO ĐỘ LỬA" CÒ NÒI
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Cao Xuân Thọ (sinh năm 1926) quê ở xã Hoằng Giang, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, sinh ra trong một vùng quê giàu truyền thống yêu nước. Nhận thức sâu sắc trách nhiệm của thế hệ trẻ trước vận mệnh dân tộc, năm 1946, ông xung phong gia nhập Đội tự vệ Thủ đô, rồi đến năm 1948 chính thức nhập ngũ vào Quân đội nhân dân Việt Nam. Với lòng nhiệt huyết cách mạng cùng tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, ông đã dấn thân vào lực lượng Thanh niên xung phong, cống hiến trọn vẹn trí tuệ và sức lực cho các chiến trường gian khổ.
Năm 1953, khi Đoàn Thanh niên xung phong (mật danh Đoàn X-P) được thành lập để phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí Cao Xuân Thọ được tin tưởng giao nhiệm vụ Đội trưởng Đội phá bom nổ chậm thuộc Đại đội 404 (Đội 40). Đơn vị của ông được phân công trực tiếp phụ trách tuyến đường huyết mạch tại ngã ba Cò Nòi và đường ngầm Hát Lót (Sơn La) – nơi được coi là "tọa độ lửa", điểm nút giao thông chiến lược chịu hàng ngàn tấn bom đạn cày xới mỗi ngày nhằm cắt đứt tuyến chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ. Đối mặt với những quả bom nổ chậm vô cùng nguy hiểm và hiểm hóc của đế quốc Pháp, Đội trưởng Cao Xuân Thọ đã cùng đồng đội dũng cảm, mưu trí tìm ra nhiều phương pháp phá bom sáng tạo, hiệu quả và an toàn. Trực tiếp đối mặt với ranh giới giữa sống và chết trong từng giây phút, ông luôn xung phong đi đầu ở những trọng điểm ác liệt nhất, kiên cường bám trụ mặt đường để thông tuyến, bảo đảm cho từng đoàn xe, đoàn quân và lương thực, khí tài nạp tiến vào chiến trường liên tục, không bị ngắt quãng.
Những chiến công thầm lặng nhưng hết sức oanh liệt của đồng chí Cao Xuân Thọ cùng lực lượng Thanh niên xung phong đã góp phần quan trọng vào thắng lợi "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Tấm gương kiên trung, sự mưu trí cùng tinh thần xả thân vì nước của Anh hùng Cao Xuân Thọ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, khắc ghi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng bất tử của khí phách Việt Nam.


