Anh hùng cứu xe tăng tuổi 24 ngày ấy...
Khi Phạm Văn Cán đang học xong năm thứ 3 - trường Đại học Bách khoa Hà Nội thì bố anh - khi ấy là chủ tịch xã Minh Tân (Phú Xuyên, Hà Tây cũ) nói: “Việc học sau này chẳng muộn. Anh đi bộ đội chiến đấu giải phóng miền Nam mới là ước nguyện của tôi”.
Anh hùng Phạm Văn Cán nhớ lại: Sinh viên ngày ấy ai cũng hăm hở lên đường ra trận theo gương anh Lê Mã Lương: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”.
Phạm Văn Cán được tuyển đi học khóa đào tạo huấn luyện lái xe tăng của Binh chủng Tăng thiết giáp ở vùng đất trung du huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Cán là một trong hai học viên được chọn đào tạo về điều khiển và kỹ thuật sử dụng tăng cứu kéo. Đây là loại xe tăng cứu hộ đặc biệt do Liên Xô cung cấp, nặng trên 50 tấn, có trang bị hệ thống cần cẩu, nâng, kéo, thăm dò địa chất để lấy đà kéo lôi xe tăng và xe thiết giáp khi bị hư hỏng. Ngày đó chỉ có 2 chiếc tăng cứu kéo tăng viện cho chiến trường B.3 và B.2.
Tháng 3/1972, nhận hai xe cứu hộ tại Bằng Tường (Trung Quốc), Cán cùng đồng đội đưa đoàn xe tăng băng băng về đến Bàu Nai, Lương Sơn (Hòa Bình) thì bất ngờ bị B.52 của địch thả bom tới tấp phủ đầu.
Đoàn tăng thiết giáp trên 100 chiếc bật đèn rùa lầm lũi đi trong đêm tiến về phương Nam theo đường Trường Sơn.
Tới đất Quảng Bình, các anh lật cánh sang Trường Sơn Tây theo đường 20 (Quyết Thắng) vào đất bạn Lào. Máy bay C.130 của Mỹ sử dụng tia la-de săn lùng các mục tiêu di chuyển mà thi nhau trút bom xuống.
Vừa hành quân, vừa phải cứu kéo xe tăng ta bị trúng đạn nằm dưới hố bom sâu, một chiếc cứu kéo do đồng đội của Cán tên Mạnh lái bị trúng đạn hỏng phải nằm lại chờ sửa chữa, nên anh từ nhiệm vụ ban đầu đi vào chiến trường B.3 (Tây Nguyên) được lệnh vượt lên trước đi B.2 với chiếc tăng cứu hộ đặc biệt mang số hiệu B 826.
Mất gần 4 tháng vượt rừng, băng núi, lội suối, đội bom, đoàn tăng thiết giáp đã về đến Tây Ninh, sẵn sàng bước vào trận chiến đấu mới. Phạm Văn Cán vinh dự được đơn vị cử đi dự Hội nghị thi đua Binh chủng Tăng thiết giáp tổ chức tại Lộc Ninh.
Mệnh lệnh của chỉ huy đưa xuống, đêm 2/11/1972 tăng đặc chủng của Cán bám theo đoàn tăng thiết giáp B.2 của Tiểu đoàn 21 từ căn cứ Bù Đốp (Sông Bé cũ) bất ngờ cắt theo đường rừng phối hợp cùng đặc công trung đoàn 429 bao vây đánh chi khu Bù Bông là bảo vệ vòng ngoài chi khu Kiến Đức và sân bay Nhân Cơ (thuộc Đắc Nông).
Trận đánh kéo dài 3 ngày đêm rất dữ dội, ác liệt. Địch dùng pháo binh hạng nặng yểm trợ và máy bay A.37 liên tục dội bom như trút nên nhiều đợt tấn công bộ đội ta bị chặn lại.
Trong khói lửa rực trời ấy, chiếc tăng cứu kéo của Phạm Văn Cán cùng 2 chiến sĩ khác dũng cảm xông thẳng vào trận địa lôi kéo 5 xe K.36 bị địch bắn hỏng và một xe T.54 lún rất sâu dưới hố.
Cũng trong chiến dịch này anh và đơn vị còn lôi luôn 7 chiếc tăng thiết giáp M.113 của địch làm chiến lợi phẩm.
Trong rất nhiều trận đánh dũng mãnh của đoàn voi sắt tăng thiết giáp Tiểu đoàn 21 tại Dầu Tiếng, Bến Cát, Bình Long, Phạm Văn Cán nhớ như in trận đánh vào ấp An Điền - Chơn Thành đầu tháng 4/1975.
Lần ấy xe đặc chủng của Phạm Văn Cán nhận lệnh vào ấp An Điền cứu kéo xe tăng bị hỏng. Nghiên cứu trên sa bàn thấy ấp có 2 cổng vào ra và 4 góc là đồn địch.
Chẳng ngờ trời tối, địa hình khá phức tạp nên xe đặc chủng đang bám theo vết xích tăng thì bị lọt vào giữa trận địa, pháo của địch từ Bến Cát, Đồng Dù, Phú Giáo, Phú Hòa Đông trút xuống như mưa.
Cán và hai chiến sĩ lao thẳng giữa cánh cung đạn lửa xanh lè cho mãi đến khi phát hiện chiếc tăng cần phải cứu đang bốc cháy đỏ rực không thể lôi ra được nữa.
Sở chỉ huy lệnh tiếp tục vào kéo chiếc thứ 2. Cán cho xe tiếp cận chiếc tăng dưới làn đạn xối xả của địch, móc cáp, lôi ra khỏi trận địa an toàn.
Lần thứ 3 anh vào lôi thêm một xe nữa bị hỏng nằm dưới hố bom. Trong lúc một chiến sĩ chui dưới gầm xe hỏng đến móc cáp, Cán điện về sở chỉ huy xin bắn yểm trợ để kéo xe ra.
Bỗng xe khựng lại và chết máy, mùi khói khét lẹt xông thẳng vào mũi, trên nắp tháp xe mảnh đạn rơi loảng xoảng… Một mảnh đạn găm vào sườn Cán. Anh nghiến răng dùng khí chữa cháy và bình tĩnh nổ máy dắt xe ra khỏi trận địa.
Sau trận đánh này, anh được tặng thưởng Huân chương Quân giải phóng hạng I. Sau đó, Binh chủng tăng thiết giáp B.2 điều anh về công tác tại Ban bảo đảm kỹ thuật sửa chữa của Miền theo cánh quân hướng Tây vượt sông Vàm Cỏ, qua Đức Hòa, Đức Huệ vào ngã tư Bảy Hiền, tiến vào giải phóng Sài Gòn.
Ngày 15/1/1976, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho trung sĩ Phạm Văn Cán.



