ANH HÙNG, ĐẠI TÁ PHẠM NGỌC THẢO (1922 - 1965)
Ông sinh ngày 14/2/1922 tại Sài Gòn, trong một gia đình điền chủ theo đạo Công giáo, quốc tịch Pháp, nguyên quán Bến Tre. Trước đây, có một số tài liệu ghi ông có nguyên quán tại xã Mỹ Phước, huyện Long Xuyên, tỉnh An Giang hoặc tại tỉnh Vĩnh Long, những phần danh nhân trong Địa chỉ An Giang và Địa chí Vĩnh Long đều không thấy có tên ông. Theo một số nhà nghiên cứu như Nguyễn Đình Tư trong Đường phố nội thành thành phố Hồ Chí Minh (Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2020, tr. 450), Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2006, tr. 1.116 - 1.118), Trần Phí Ánh trong bài “Phạm Ngọc Thảo - Nhà tình báo huyền thoại", in trong Tạp chí Xưa và Nay số 403 (tháng 5/2012) và gần đây nhất là Nguyễn Q. Thắng trong bài "Phạm Ngọc Thảo - Nhà tỉnh báo chiến lược", in trên tạp chí Xưa và Nay, số 517 (tháng 3/2020), tr. 26-29,... thì nguyên quán ông ở tỉnh Bến Tre. Cha ông là Adrian Phạm Ngọc Thuần có tới hơn 4.000 mẫu ruộng và gần 1.000 căn nhà rải rác khắp các tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Sài Gòn, Rạch Giá, Sa Đéc, Vĩnh Long…
Phạm Ngọc Thảo còn có tên là Albert Phạm Ngọc Thảo hay Albert Thảo. Ông thường được gọi là Chín Thảo vì là con thứ tám trong gia đình. Ông có hai người anh tham gia hoạt động cách mạng là Gaston Phạm Ngọc Thuần và Phạm Ngọc Hùng. Gaston Phạm Ngọc Thuần là anh trai cả, sang Pháp học từ nhỏ, tốt nghiệp luật sư, về nước tham gia kháng chiến, giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ. Sau khi tiến sĩ, luật sư Phạm Văn Bạch chuyển ra miền Bắc, Gaston Phạm Ngọc Thuần làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam Bộ kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Trong những năm 1960, ông làm Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Phạm Ngọc Hùng là anh trai thứ bảy, sau khi học ở Pháp về cũng tham gia cách mạng và làm Ủy viên Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam.
Lúc nhỏ, ông học tại Trường Lasan Tabert, một trường tư thục Công giáo nổi tiếng ở Sài Gòn (nay là Trường THPT Lê Quý Đôn). Sau khi đỗ tú tài, ông theo học ngành công chánh.
Từ năm 1943 - 1945, ông làm việc tại Ty Kiến trúc Sài Gòn -Chợ Lớn. Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông tham gia công tác cách mạng ở Sài Gòn. Năm 1946, được sự giới thiệu của Gaston Phạm Ngọc Thuần, ông vào làm việc tại Văn phòng Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ. Cũng trong năm này, nhờ giỏi tiếng Anh và tiếng Pháp nên Phạm Ngọc Thảo cùng với 12 người Nam Bộ khác được Nguyễn Bình chọn ra Sơn Tây học lớp cán bộ tình báo khóa đầu tiên tại Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn). Tốt nghiệp, ông được điều về Phú Yên làm giao liên, nhận nhiệm vụ bảo vệ đồng chí Lê Duẩn vào Nam. Năm 1947, ông làm Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ, là tổ chức tình báo đầu tiên của cách mạng ở Nam Bộ; năm 1949, ông làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 404. Những năm 1950 - 1952, ông là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, Chỉ huy trưởng Bộ đội chủ lực Nam Bộ. Năm 1952 -1953, ông làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410. Ở chiến khu, năm 1949, ông lập gia đình với một cán bộ của Hội Phụ nữ cứu quốc Nam Bộ là bà Phạm Thị Nhiệm.
Sau Hiệp định Genève, Phạm Ngọc Thảo được gọi ra Bắc để chuẩn bị thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt - tình báo chiến lược. Theo nhiệm vụ này, ông không đi tập kết ra Bắc mà ở lại miền Nam để hình thành lực lượng thứ ba. Cuối tháng 1/1955, trong một căn nhà lá ba gian tại xã Biển Bạch, huyện Thới Bình (Cà Mau), một cuộc họp đặc biệt diễn ra chỉ với ba người gồm Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Lê Đức Thọ - Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và Phạm Ngọc Thảo. Tại cuộc họp này, đồng chí Lê Duẩn đã giao cho Phạm Ngọc Thảo nhiệm vụ đặc biệt là tìm cách xâm nhập vào hàng ngũ địch và cần được chúng tin cần để leo cao, chui sâu trong chế độ Ngô Đình Diệm, nắm bắt những mưu đồ chiến lược của Mỹ - Diệm, báo cáo cho Trung ương, đồng thời chuẩn bị lực lượng ngầm để lật đổ chế độ Mỹ - Diệm, thống nhất Bắc - Nam nếu con đường hòa bình bằng Hiệp định Genève không thành công. Với nhiệm vụ này,vai trò của Phạm Ngọc Thảo có thể ví như một đạo quân hoạt động bí mật trong lòng địch. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói: "Anh Ba Duẩn rất tin cậy Phạm Ngọc Thảo và đã giao cho đồng chí Thảo một nhiệm vụ đặc biệt... Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong công tác cách mạng của chúng ta.”
Phạm Ngọc Thảo ở lại miền Nam và hoạt động bí mật với vỏ bọc bên ngoài là làm nghề dạy học tại các trường tư ở Sài Gòn. Tại đây, vì không chịu ký vào giấy “hồi chánh” nên ông bị bọn mật vụ theo dõi, mấy lần vây bắt hụt, phải lánh về Vĩnh Long dạy học để nhờ sự bảo lãnh của Giám mục Ngô Đình Thục, vốn đã quen thân từ trước với gia đình ông.
Phạm Ngọc Thảo được Giám mục Thục rất tin tưởng và giới thiệu với Ngô Đình Diệm. Nhờ đó, ông mới đưa được vợ con lên sống ở Sài Gòn. Tháng 12/1954, ông được “đồng hóa” vào bộ máy ngụy quyền Sài Gòn và nhanh chóng kết thân với gia đình Ngô Đình Diệm. Năm 1956, ông làm việc ở Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Cộng hòa. Đầu năm 1957, ông tham gia sáng lập Tạp chí Bách Khoa (1957-1975), tạp chí của một nhóm trí thức Đảng Cần lao (của Ngô Đình Nhu) mà ông vừa gia nhập và viết đăng gần như liên tục hơn 20 bài nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật quân sự. Với kiến thức uyên bác của mình, ông được độc giả và giới trí thức rất hoan nghênh và cuối cùng cũng đã chinh phục được anh em Diệm, Nhu. Cũng trong năm 1957, ông được chuyển qua ngạch quân đội với cấp bậc “đại úy đồng hóa" trong quân lực Việt Nam Cộng hòa, lần lượt giữ các chức vụ: Tỉnh đoàn trưởng Bảo an tỉnh Vĩnh Long, Chỉ huy trưởng Bảo an tỉnh Bình Dương.
Sau khi học trường sĩ quan tham mưu (Command and General Staff College) ở bang Kansas, Hoa Kỳ, năm 1959 về nước, ông được thăng thiếu tá, làm việc ở Phủ Tổng thống (cạnh Ngô Đình Nhu). Tại đây, được Ngô Đình Diệm rất tin cậy trong công tác chính trị, an ninh nội bộ, nên ông được cử làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre) với cấp bậc trung tá (từ tháng 11/1960 đến tháng 5/1962).
Khi nhận nhiệm vụ mới, ông ra ba điều kiện và được Ngô Đình Diệm đồng ý: Một là ổn định tình hình Bến Tre không phải bằng bạo lực mà là chính trị, vì ông không thể hành động như những quân nhân võ biền khác. Hai, nếu bắt được Việt cộng, có đủ bằng chứng, cho lập phiên tòa xét xử. Ba, Tỉnh trưởng Bến Tre được đặc cách chỉ báo cáo với Tổng thống, không qua một ban, bộ nào.
Ba yêu cầu này đã gián tiếp cho phép ông không phải đàn áp phong trào đấu tranh của Bến Tre đang lên cao độ, có cớ để trừng trị bọn đầu hàng, chỉ điểm và tránh được những kẻ gièm pha, ton hót,... Và việc đầu tiên khi làm Tỉnh trưởng Bến Tre là ông ký quyết định thả 2.000 tù nhân đang bị giam giữ (trong đó có ông Võ Viết Thanh, sau này là Trung tướng) và lập tòa án trừng trị bọn phản bội, đầu hàng. Khi mọi nghi ngờ đổ dồn về ông thì ông giải thích rằng, Ngô Đình Diệm đang thí nghiệm một luận thuyết mới: Luận thuyết thân dân, cần phải có thì giờ để kiểm nghiệm. Cũng nhờ sự khéo léo đó, ông đã qua mắt được chính quyền Sài Gòn.
Sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm (1/11/1963), Phạm Ngọc Thảo được nhóm sĩ quan cầm đầu cuộc đảo chính thăng hàm đại tá, làm phát ngôn viên báo chí trong "Hội đồng quân nhân cách mạng", rồi làm tùy viên văn hóa của Sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ. Do đó, vợ con ông đều chuyển qua sống ở Hoa Kỳ. Phạm Ngọc Thảo với bà Phạm Thị Nhiệm có 7 người con, tất cả đều đã học hành thành tài (có người là bác sĩ). Vợ ông từng đi dạy học. Hiện vợ và con ông đều định cư ở Hoa Kỳ.
Đầu năm 1965, ông được gọi về nước. Chính quyền Sài Gòn lúc này đã phát hiện ông hoạt động cho đối phương. Biết bị lộ, ông không chấp hành lệnh, tìm cách trốn tránh và liên hệ móc nối với các lực lượng đối lập khác như tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát để lật đổ chế độ hiện thời. Cuộc đảo chính nổ ra trưa ngày 19/2/1965 ở Sài Gòn, nhưng chỉ làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn, rồi bị dập tắt. Ông đào thoát, trốn ở nhiều nơi, cuối cùng vào ở một tu viện Công giáo ở Thủ Đức.
Ngày 16/7/1965, ông bị toán mật vụ bắt đưa đến khu rừng gần Hố Nai (Biên Hòa) thủ tiêu, rồi bỏ đi. Ông bị bắn vào mặt, nhưng không chết. Ông được một vị linh mục đưa về cứu chữa tại một trạm cứu thương ở Biên Hòa. Do lực lượng an ninh quân đội ở Sài Gòn phát hiện, ông bị bắt trở lại, đưa về Sài Gòn, tra tấn đến chết trong đêm 17/7/1965, khi mới 43 tuổi. Nghe tin ông hy sinh, Bác Hồ và Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng - Lê Duẩn đã khóc.
Đại tá Phạm Ngọc Thảo là một nhà tình báo chiến lược được Trung ương trực tiếp chỉ đạo, “độc nhất vô nhị trong số điệp viên nhị trùng” của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ những vị trí trọng yếu của chế độ ngụy quyền, một nhân vật quan trọng tác động đến hai cuộc đảo chính lớn ở Sài Gòn. Trong giới tướng lĩnh Sài Gòn, ông rất có uy tín, thông minh, giao du rộng, hào phóng, có tài ăn nói,... nên hầu hết đều khâm phục và muốn lôi kéo ông về phía mình. Phạm Ngọc Thảo được nhiều người đánh giá là nhà tình báo xuất sắc nhất trong bốn nhà tình báo của Quân đội nhân dân Việt Nam (ba người còn lại là Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn và Lê Hữu Thúy). Ông Trần Bạch Đằng, nguyên Phó ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam nhận xét: “Các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập thông tin chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và độc lập tác chiến. Anh là một nhà tình báo đặc biệt có một không hai (2)" Theo nhà nghiên cứu Trần Phi Ánh: “Phạm Ngọc Thảo có dáng người cao lớn, đẹp trai, vẻ khó gần nhưng nếu tiếp xúc thì lại thấy cảm tình ngay, anh lại có biệt tài thuyết phục người đối thoại cho nên hầu như anh được mọi người tin tưởng và rất thành công trong hoạt động của mình. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc, anh được phép liên hệ với CIA và người Mỹ cũng đã có ý định bồi dưỡng đào tạo anh để trở thành người thay thế Ngô Đình Diệm sau này(1)
Sau ngày giải phóng 30/4/1975, ông được Nhà nước công nhận Liệt sĩ với cấp hàm Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1987, mười hai năm sau ngày chiến thắng, thống nhất đất nước (30/4/1975), các cơ quan có trách nhiệm và thân nhân, đồng đội cũ đã lập hồ sơ đề nghị trình cấp Trung ương. Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời hoạt động của ông đã được nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) viết thành bộ tiểu thuyết nhiều tập mang tên "Ván bài lật ngửa” và sau đó được dựng thành phim cùng tên (nhân vật chính được đổi tên thành Nguyễn Thành Luân). Bộ phim rất nổi tiếng, được khen ngợi và thu hút đông đảo người xem.
Năm 2015, nơi ở và làm việc của Phạm Ngọc Thảo tại Bến Tre - Dinh Tỉnh trưởng, tức Bảo tàng tỉnh Bến Tre hiện nay, được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Ở thành phố Hồ Chí Minh có con đường mang tên ông.



