ANH HÙNG ĐÀM VĂN NGỤY
Trung tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đàm Văn Ngụy đã được mệnh danh là “Cọp trắng Đông Bắc” gây sợ hãi cho quân Pháp cũng là người cầm quân làm nên nhiều trận “kinh thiên, động địa” khiến Mỹ, ngụy kinh hoàng…
Vợ con Trung tướng Đàm văn Ngụy ở Thái Nguyên. Trong những lần về Hà Nội họp Quốc hội, ông thường nghỉ ở Trạm 66. Vì thế tôi có khá nhiều cơ hội để nghe được nghe ông kể chuyện thời chiến tranh. Đến năm 2016, khi về nhận công tác tại Quân khu 1, tôi may mắn có điều kiện gần gũi với Đại tá Đàm Văn Dũng là con trai của cố Trung tướng Đàm Văn Ngụy nên những bí ẩn xung quanh giai thoại của “Cọp trắng Đông Bắc” đã được sáng tỏ. Trung tướng Đàm Văn Ngụy là người Tày, sinh năm 1927 ở xã Xuất Tính (nay là xã Minh Khai), huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia cách mạng khi mới 14 tuổi. Ban đầu là liên lạc cho cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật ở huyện Thạch An.
Đến tháng 12-1944, khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) thành lập, ông đã có tên trong danh sách triệu tập nhưng do bận làm nhiệm vụ tại địa phương, nên phải đến gần một tháng sau (tháng 1-1945), ông mới chính thức gia nhập Đội và là một trong những đội viên trẻ tuổi nhất khi đó (18 tuổi). Sau một số trận trực tiếp chiến đấu, đến tháng 6-1945, ông được giao nhiệm vụ làm tiểu đội phó, trực tiếp chỉ huy tiểu đội trong cuộc đấu tranh vũ trang giành chính quyền vào tháng 8-1945 ở các địa phương thuộc Cao Bằng và Lạng Sơn.
Ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến (tháng 12-1946), ông đã có mặt tại Lạng Sơn để chỉ huy tiểu đội nhiều lần đẩy lui các đợt xung phong của quân đội Pháp ở đây. Trong đó có trận đánh nổi tiếng cản và rút sau cùng ở Cơn Pheo (Lạng Sơn) để cán bộ của tỉnh Lạng Sơn thoát khỏi vòng vây của địch.
Khi Trung đoàn chủ lực 174 (còn gọi là Trung đoàn Cao - Bắc - Lạng) được thành lập, ông được điều động làm cán bộ trung đội thuộc Tiểu đoàn 249 của Trung đoàn này, trực tiếp nằm dưới sự chỉ huy của “Hùm xám đường số 4” Đặng Văn Việt. Tại đây, tất cả những gì tinh túy trong nghệ thuật phòng ngự, phục kích và chiến đấu của “Đệ tứ quốc lộ Đại Vương” Đặng Văn Việt đã được ông tiếp thu và phát huy nhanh chóng.
Vốn là người gắn bó với rừng núi từ khi mới lọt lòng mẹ nên ông thông thạo với núi rừng. Ở địa bàn Đông Bắc, ông đã đề xuất cấp trên, đưa ra chiến thuật đánh du kích trên địa bàn rừng núi, với phương châm “lấy ít địch nhiều, giảm thương vong” và sử dụng linh hoạt các chiến thuật đánh phục kích, công đồn… từ nhỏ đến lớn. Chiến thuật này đã gây tổn thất nặng nề và làm thất bại âm mưu chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân Pháp.
Ông thường xuyên “hóa thân” thành người dân địa phương, trực tiếp trinh sát địa hình rồi vừa là người chỉ huy, vừa là người xung phong đầu tiên trong những trận phục kích trên đường số 4 trong suốt những năm 1947-1950. Với cách đánh đặc biệt như hổ vồ, Trung đội trưởng Đàm Văn Ngụy được quân viễn chinh Pháp đặt cho cái tên là “Cọp trắng Đông Bắc”.
Sau hơn nửa thế kỷ, một số người dân ở Lạng Sơn, Cao Bằng vẫn còn nhớ về hình ảnh của “hai con hổ” là “Hùm xám đường số 4” và “Cọp trắng Đông Bắc”. Cả đoàn quân Pháp hung hăng đi cướp bóc, quấy phá dân, chỉ cần nghe có quân của “Cọp trắng Đông Bắc” hoặc “Hùm xám đường số 4” là vội vàng rút chạy về đồn.
Trung tướng Đàm Văn Ngụy không nhớ hết được mình đã tham gia bao nhiêu trận đánh trên đường số 4, ông chỉ nhớ tới những trận tiêu biểu, trong đó có trận vào tháng 4 năm 1947, đơn vị ông phục kích đánh đoàn xe quân sự Pháp ở Bó Củng, tiêu diệt nhiều xe cơ giới và thiết giáp của giặc Pháp. Trận phục kích vào tháng 8 năm 1949, ông dẫn trung đội xung phong đánh vào đúng giữa đoàn xe quân sự Pháp ở Lũng Vài, chia cắt đội hình, gây rối loạn, tạo điều kiện cho đơn vị tiến công diệt nhiều xe và lính Âu Phi.Sau khi miền Bắc được giải phóng, Đàm Văn Ngụy được ra nước ngoài học rồi về nước tiếp tục gắn bó với Trung đoàn 174 Anh hùng trên cương vị là trung đoàn phó, rồi trung đoàn trưởng.
Tháng 4-1967, Trung đoàn trưởng Đàm Văn Ngụy dẫn đầu Trung đoàn 174 vượt Trường Sơn vào miền Nam, bổ sung vào mặt trận Tây Nguyên. Tại đây, vào tháng 11-1967, ông chỉ huy đơn vị đánh một trận “kinh thiên động địa” với "Lính nhà trời" - Lữ đoàn dù 173 của Mỹ trên đồi 875 trong chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh.Trước đó, vào tháng 10-1967, biết ta chuẩn bị mở chiến dịch ở bắc Kon Tum, địch vội vàng kết thúc cuộc hành quân Mac Arthur ở Gia Lai, chuyển hướng về vùng rừng núi trên Đắk Tô, hình thành hai cụm căn cứ quân sự tuyến phòng thủ Bắc Tây Nguyên: Cụm 1 tại khu vực ngã ba đường 14 và đường 18, cụm 2 dọc đường 18. Lực lượng, gồm: Lữ đoàn 1, Sở Chỉ huy hành quân, cụm kho hậu cần của Mỹ và Trung đoàn 42 ngụy.
Đảng ủy, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở Chiến dịch Đắk Tô, buộc chúng phải điều quân ứng cứu, giải tỏa, tạo điều kiện tiêu diệt quân Mỹ, làm tan rã quân ngụy. Trung đoàn 174 được xác định đánh trận then chốt quyết định của chiến dịch.
Trung đoàn bố trí một đại đội chốt ở điểm cao 882 và một đại đội chốt ở điểm cao 875. Ngoài ra, còn bố trí một đại đội trợ chiến ở khu vực Tây điểm cao 875 làm nhiệm vụ vận động tiến công kết hợp chốt để tiêu diệt địch, tạo thế vững chắc, liên hoàn, linh hoạt, bảo đảm đánh bại các đợt phản kích, đột kích của Lữ đoàn 1 và Lữ đoàn dù 173 của địch khi chúng lọt vào thế trận chuẩn bị sẵn ở khu vực điểm cao 875.
Chiến dịch Đắk Tô bắt đầu từ ngày 3-11-1967, khi quân đội Mỹ đổ 1 tiểu đoàn xuống dãy Ngọc Bơ Biêng nhưng bị quân giải phóng đánh lui, buộc địch phải điều động Lữ đoàn dù 173 lên Đắk Tô để tăng cường sức chiến đấu.
Nắm được ý định này, Trung đoàn 174 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Đàm Văn Ngụy đã sử dụng lực lượng tại các chốt phục kích, vây ép, kết hợp pháo kích, buộc Lữ đoàn dù 173 của địch phải triển khai lực lượng ở thế bất lợi; từ đó, nhanh chóng chuyển hóa thế trận từ phục kích sang vận động tiến công địch vào khu vực điểm cao 875.
Sau khi đánh địch đổ bộ đường không, thực hiện ý định chiến thuật, Trung đoàn 174 bỏ chốt 882, chuyển Tiểu đoàn 3 và một phần Tiểu đoàn 1 về điểm cao 875, hình thành thế trận phòng ngự “chân kiềng” sẵn sàng đánh địch tại khu vực này.
Đúng như Trung đoàn trưởng Đàm Văn Ngụy dự đoán, ngày 18-11-1967, một tiểu đoàn của Lữ đoàn dù 173 mò lên điểm cao 875 đã đụng độ với bộ phận chốt của Trung đoàn 174 và bị thương vong khoảng 90 binh sĩ phải lui về chỗ cũ.
Ngày 19 và 20-11-1967, Mỹ tập trung bom, pháo bắn phá dữ dội vào cao điểm 875. Sau mỗi đợt hỏa lực chuẩn bị, bộ binh Mỹ xông lên nhưng đều bị Trung đoàn 174 đánh dạt xuống. Đến chiều ngày 20, tiểu đoàn 2 của Lữ đoàn 173 đã dốc toàn bộ lực lượng mở một cuộc tấn công lên. Nhưng lần này chúng đã bị 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 174 đánh vòng tạt sườn và sau 3 tiếng đồng hồ giao tranh quyết liệt, Tiểu đoàn 2 của Lữ đoàn 173 gần như bị xóa sổ.
Như con bạc khát nước, Mỹ tiếp tục đổ thêm quân xuống cao điểm 875, chỉ chờ có vậy, Trung đoàn trưởng Đàm Văn Ngụy lệnh cho các đơn vị dùng hỏa lực khống chế các bãi đổ bộ, tiêu diệt địch cho quá trình đổ bộ đường không. Trong suốt buổi chiều 20-11, Mỹ mất đến 8 chiếc máy bay trực thăng chở quân và hàng trăm tên lính phải đền tội.
Trong cả ngày 21-11, Mỹ cho các loại bom pháo bắn dữ dội vào cao điểm 875. Chiều tối ngày 21, Mỹ xua quân đánh lên chốt và chiếm được một đoạn chiến hào. Hai bên đánh giáp lá cà quyết liệt suốt nhiều giờ. Đến sáng sớm ngày 22, Trung đoàn trưởng Đàm Văn Nguy ra lệnh phản kích, dùng lựu đạn và tiểu liên đẩy lính Mỹ xuống giành lại đoạn chiến hào.
Vài ngày sau khi chiến dịch kết thúc, đài BBC của Anh bình luận: "Lữ đoàn dù 173 Hoa Kỳ là đơn vị sừng sỏ chưa từng biết thua trận, lần đầu tiên đã tháo chạy trước Việt Cộng". Những binh lính



