anh hùng dân tộc
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và Quân đội Nhân dân Việt Nam, người học trò ưu tú và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không chỉ là một vị tướng tài ba trên chiến trường với tư duy quân sự sắc bén, ông còn là một nhà chiến lược lớn trên mặt trận kinh tế – xã hội. Cuộc đời và sự nghiệp 53 năm ngắn ngủi nhưng vô cùng oanh liệt của ông đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân và lịch sử dân tộc.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Văn Vịnh, sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914 tại làng Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng quê giàu truyền thống yêu nước, ông sớm chứng kiến cảnh nước mất nhà tan và giác ngộ lý tưởng cách mạng từ rất trẻ. Năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và nhanh chóng thể hiện năng lực lãnh đạo, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Trong giai đoạn từ năm 1938 đến 1943, ông nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam và tra tấn dã man qua các nhà tù Buôn Ma Thuột, Quy Nhơn... Tuy nhiên, sự tàn bạo của kẻ thù không thể quật ngã được chí khí của người chiến sĩ cộng sản. Tháng 8 năm 1945, tại Hội nghị Toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và chính thức được Bác Hồ trao tặng cái tên lịch sử: Nguyễn Chí Thanh.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), ông liên tục đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng như Bí thư Phân khu ủy Bình - Trị - Thiên, Bí thư Liên khu ủy 4. Đến tháng 7 năm 1950, ông được giao đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, góp phần xây dựng bản chất cách mạng, tư tưởng kiên định và sức mạnh chiến đấu cho quân đội ta, đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Năm 1959, với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, ông được phong hàm Đại tướng, trở thành vị Đại tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Không chỉ tài ba trong binh nghiệp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh còn ghi dấu ấn đậm nét trên mặt trận xây dựng đất nước. Năm 1961, khi được Đảng phân công làm Trưởng Ban Công tác Nông thôn Trung ương, ông đã mang tinh thần tiến công của người chiến sĩ ra đồng ruộng. Ông trực tiếp xuống tận các hợp tác xã, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với bà con nông dân để lắng nghe và tháo gỡ khó khăn. Từ thực tiễn đó, ông đã phát động phong trào thi đua "Gió Đại Phong" trong nông nghiệp, kết hợp với "Sóng Duyên Hải" trong công nghiệp và "Cờ Ba Nhất" trong quân đội, tạo nên một khí thế lao động sản xuất sôi nổi chưa từng có trên toàn miền Bắc. Hình ảnh vị tướng mặc áo nâu sồng, lội bùn thâm nhập thực tế đã khiến nhân dân thương yêu gọi ông bằng cái tên trìu mái: "Vị tướng Nông dân".
Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, trực tiếp đưa quân xâm lược miền Nam, năm 1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh lại tiếp tục nhận nhiệm vụ vào chiến trường gian khổ nhất, đảm nhiệm chức vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Đứng trước sức mạnh hỏa lực và vũ khí hiện đại áp đảo của quân đội Mỹ, ông đã bình tĩnh phân tích cục diện và đúc kết nên khẩu hiệu tác chiến kinh điển: "Nắm thắt lưng địch mà đánh". Phương châm đánh áp sát này đã triệt tiêu hoàn toàn ưu thế về pháo binh và không quân của đối phương, làm nên những chiến thắng vang dội tại Ia Đrăng, Bàu Bàng, Dầu Tiếng... Tư tưởng chỉ đạo "Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt" của ông đã củng cố vững chắc niềm tin thắng lợi cho quân và dân miền Nam trong những năm tháng khốc liệt nhất.
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn quyết định, ngày 6 tháng 7 năm 1967, trong khi đang chuẩn bị ra Bắc để báo cáo với Bộ Chính trị về kế hoạch chiến lược lớn cho chiến trường miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đột ngột qua đời tại Hà Nội sau một cơn thót tim cấp tính. Sự ra đi của ông là một tổn thất vô cùng to lớn đối với Đảng, Quân đội và toàn thể nhân dân Việt Nam.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã sống một cuộc đời trọn vẹn với nước, với dân. Ông là sự kết hợp hài hòa giữa tài năng quân sự sắc bén, tư duy kinh tế thực tiễn và một nhân cách sống giản dị, khiêm nhường, luôn gần gũi với quần chúng. Những bài học về tinh thần bám sát thực tiễn, tác phong sâu sát và chí khí tiến công của ông vẫn còn nguyên giá trị, mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau soi rọi.


