Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ
Nguyễn Huệ sinh năm 1753 với tên là Hồ Thơm, có cha là Hồ Phi Phúc, mẹ là Nguyễn Thị Ðông và mất
ngày 16 tháng 9 năm 1792 hưởng thọ 39 tuổi, sau khi lên ngôi hoàng đế được 4 năm.
Thời đó có ông giáo Hiến, người chống đối Trương Phúc Loan, trốn vào Quy Nhơn mở trường dạy học.
Phát hiện được tài năng, chí lớn của 3 anh em Hồ Thơm, ông đã hết lòng dạy cả văn lẫn võ và thường
khuyên bảo: "Các con là người của đất Tây Sơn, Tây Sơn khởi nghĩa sẽ làm nên nghiệp lớn ở Bắc Hà".
Ðến lúc khởi binh, anh em Huệ lấy họ mẹ là họ Nguyễn để thuận lòng người, vì đất trong Nam là thuộc
Chúa Nguyễn.
Năm 18 tuổi, Nguyễn Huệ đã cùng Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ lập đồn trại ở rừng núi, chiêu tập nghĩa
quân, truyền đi bài hịch, kêu gọi: "đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Phúc
Dương" (cháu đích tôn của Nguyễn Phúc Khoát bị Phúc Loan phế truất) nêu cao khẩu hiệu "Lấy của nhà
giàu chia cho người nghèo". Cờ nghĩa đến đâu, dân theo đến đó.
Mùa thu năm 1773, nghĩa quân đã chiếm được Quảng Ngãi. Ở mặt Nam, chiếm từ Nam Bình Ðịnh cho
đến Bình Thuận. Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Thái Ðức, phong Nguyễn Huệ
làm Long Nhượng tướng quân.
Năm 1782, thủy quân của Nguyễn Huệ đã đánh bại lực lượng thủy quân lớn của Nguyễn Ánh có tàu
chiến Bồ Ðào Nha giúp. Cuối năm 1782, vua Tây Sơn bình xong đất Gia Ðịnh.
Gia Ðịnh thất thủ, Nguyễn Ánh cho Cảnh là con trai mới 4 tuổi làm con tin theo giám mục Báđalộc qua
Pháp cầu cứu, gởi kèm theo thư cho vua Pháp cam kết nếu được giúp thành công thì xin nhượng đảo
Côn Lôn, cửa Hội An. Cùng lúc, Nguyễn Ánh còn cầu cứu vua Xiêm.
Ở Côn Lôn, có đền thờ Bà Phi Yến, vợ ba của Nguyễn Ánh, người khuyên ngăn chồng không nên để phải
mang tội "Cõng rắn cắn gà nhà", đã bị Nguyễn Ánh trừng phạt đày trong hang đá ở đảo cho đến chết.
Cuối tháng 7 năm 1784, vua Xiêm đưa 2 vạn thủy quân, 300 chiến thuyền và 3 vạn bộ binh cùng Nguyễn
Ánh tràn vào chiếm vùng miền Tây Nam Bộ, đến đâu là tàn phá, cướp bóc, hãm hiếp rất dã man. Nguyễn
Huệ từ Quy Nhơn đem quân vào chống giữ. Ngày 18 tháng Giêng năm 1785, quân Xiêm theo dòng sông
Mỹ Tho, ồ ạt tiến vào đoạn Rạch Gầm Xoài Mút. Nguyễn Huệ chỉ bố trí đánh một trận vào sáng ngày 19
tháng 1 năm 1785, 5 vạn quân Xiêm bị tiêu diệt, chỉ còn vài nghìn người chạy bộ trốn về nước. Nguyễn
Ánh cùng đường, cũng chạy sang Xiêm.
Chiến thắng vẻ vang này đã kết thúc giai đoạn đánh đổ chúa Nguyễn, đặt toàn bộ lãnh thổ Ðàng Trong
dưới quyền kiểm soát của nghĩa quân Tây Sơn.
Lúc này, từ Hải Vân trở ra do tập đoàn Lê - Trịnh chiếm giữ, đang lâm tình thế vô cùng rối ren. Chúa
Trịnh suy yếu. Vua Lê chỉ là bù nhìn. Nhân dân đói khổ nổi dậy chống đối khắp nơi. Thời cơ tấn công Bắc
Hà đã đến. Tháng Tư năm 1786 Nguyễn Huệ đã tổ chức và thực hiện hai kế hoạch: giải phóng Thuận Hóa
và giải phóng Thăng Long.
Ðể giải phóng Thuận Hóa, Nguyễn Huệ đã tổ chức 3 mũi tiến công đi theo 3 đường, sử dụng cả bộ binh
và thủy binh. Hơn 3 vạn quân cùng toàn thể tướng lĩnh cao cấp của nhà Trịnh tại đây đã bị tiêu diệt. Một
vùng rộng lớn từ Hải Vân đến bờ sông Gianh được giải phóng.
Sau khi giải phóng vùng Thuận Hóa, Nguyễn Huệ đưa quân tiến thẳng ra Bắc Hà. Ðể giải phóng Thăng
Long, về chính trị, Nguyễn Huệ đã giương cao ngọn cờ "Phò Lê diệt Trịnh" nhằm tranh thủ sự ủng hộ của
nhân dân, cô lập quân Trịnh. Về quân sự, Nguyễn Huệ sử dụng quân thủy bộ, với hơn 1.000 thuyền
chiến có cả đội voi chiến.
Chỉ đánh trong một đêm đến sáng ngày 19 tháng 7 năm 1786, quân chúa Trịnh hoàn toàn bị tan rã, quân
Nguyễn Huệ rầm rộ tiến vào Phố Hiến. Và ngay lập tức ngày 21 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ cho đại
quân tiến vào Thăng Long. Nếu kể từ 11 tháng 7 năm 1786 đánh Vị Hoàng, Phố Hiến đến lúc vào Thăng
Long chỉ mất 10 ngày. Mấy ngày sau, Nguyễn Huệ cùng các tướng sĩ, các quan văn võ Bắc Hà vào chúc
mừng vua Lê Hiển Tông. Ngày 1 tháng 8 năm 1786, vua phong Nguyễn Huệ làm "uy quốc công" và gả công chúa Ngọc Hân, nhận Nguyễn Huệ làm phò mã.
Sau khi hoàn thành mọi việc, Nguyễn Huệ rút quân về Nam.
Quân Tây Sơn rút về, Bắc Hà rối loạn. Lê Chiêu Thống kế vị Lê Hiển Tông bất lực, bị thế lực họ Trịnh do
Trịnh Bồng đứng đầu lấn áp, phải dựa vào Nguyễn Hữu Chỉnh để đánh bại quân Trịnh. Nguyễn Hữu
Chỉnh nhân đó lộng quyền, trước theo Tây Sơn, nay chống lại Tây Sơn. Nguyễn Huệ phái Ngô Văn Sở, Vũ
Văn Nhậm đem quân ra diệt Chỉnh. Nguyễn Hữu Chỉnh và Lê Chiêu Thống chạy lên phía Bắc, quân sĩ bỏ
trốn hết không ai theo. Chỉnh đến Yên Thế thì bị giết. Lê Chiêu Thống trốn thoát, chạy qua Quảng Tây
(Trung Quốc) cầu cứu.
Nguyễn Huệ rút về Nam, giao trách nhiệm cho Vũ Văn Nhậm sắp xếp công việc. Vũ Văn Nhậm đưa Lê
Duy Cẩn lên làm giám quốc bù nhìn, rồi lộng quyền làm nhiều điều xằng bậy. Nguyễn Huệ lại phải vội vã
ra Bắc, bắt giết Nhậm, cử Ngô Văn Sở lên thay, đồng thời thu nhận những hiền tài trong số quan lại, sĩ
phu tiến bộ, giao chức quyền cho họ, trong đó có Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích...
Như vậy là sau hơn 15 năm khởi nghĩa, quân Tây Sơn đã đánh đổ 3 tập đoàn phong kiến thống trị:
Nguyễn - Trịnh - Lê. Nước nhà được thống nhất từ Hà Tiên Rạch Giá cho đến cả miền bắc. Ðây là một sự
nghiệp hết sức huy hoàng, vĩ đại.
Nhưng, dựa vào lời cầu cứu của vua tôi Lê Chiêu Thống, triều đình phong kiến Mãn Thanh, đã cho Tôn Sĩ
Nghị đưa quân chủ lực vào chiếm đóng Thăng Long ngày 17 tháng 12 năm 1788.
Ðược tin cấp báo, Nguyễn Huệ tính kế chống quân xâm lược. Ðể làm sáng tỏ chính nghĩa và danh nghĩa
đối với cả nước, trách nhiệm với toàn dân ở cả 2 miền Bắc Nam, ngày 22 tháng 12 năm 1788, Nguyễn
Huệ lập đàn ở phía Nam núi Ngự Bình (Huế) tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang
Trung.
Hoàng đế Quang Trung được Ngô Thì Nhậm làm tham mưu đã cùng các tướng chuẩn bị cuộc tấn công.
Toàn quân được chia làm 5 đạo, nhiệm vụ mỗi đạo được xác định rõ ràng. Cách đánh là vận dụng linh
hoạt yếu tố bí mật, bất ngờ, tiến công trên nhiều hướng, thực hiện bao vây tiêu diệt quyết liệt bằng lực
lượng cơ động, kết hợp tấn công chính diện với thọc sâu vu hồi vào cạnh sườn và sau lưng địch, chia cắt
để tiêu diệt từng bộ phận, đánh vào từng điểm địch yếu thế hơn mình.
Vua Quang Trung cho toàn quân ăn Tết trước và tổ chức lễ "thệ sư" vào giữa đêm giao thừa thanh vắng,
đọc vang lời hịch:
"Ðánh cho để dài tóc
Ðánh cho để đen răng
Ðánh cho nó chích luân bất phản
Ðánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Ðánh cho sử tri, nam quốc anh hùng chi hữu chủ"
(Có nghĩa là đánh để vẫn giữ được phong tục tập quán, vẫn để được tóc dài, vẫn nhuộm được răng đen.
Ðánh cho nó, một chiếc xe để chạy về nước cũng không có. Ðánh cho nó, một mảnh giáp cũng chẳng
còn. Ðánh cho nó biết nước Nam anh hùng là có chủ). Lời hịch bằng nửa Nôm, nửa Hán, mang một giá
trị mới về văn hóa. Trước khi truyền hịch, Vua Quang Trung còn kể tội quân Thanh, nêu cao tính chính
nghĩa của cuộc kháng chiến.
Ðêm 30 tháng Chạp năm Mậu Thân (25-1-1789) xuất quân, cho đến trưa ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30-1-
1789), trong vòng 5 ngày đêm, 29 vạn quân giặc (cả dân phu) do Tôn Sĩ Nghị làm tổng chỉ huy, đã bị tiêu
diệt và ra đầu hàng. Tướng giặc Sầm Nghi Ðống thắt cổ chết tại sở chỉ huy. Tổng chỉ huy quân giặc Tôn Sĩ
Nghị "hốt hoảng bỏ chạy, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp". Thấy tướng chạy,
quân chạy theo, qua cầu phao vượt sông Hồng, cầu gãy, hàng vạn quân Thanh rơi xuống nước, chết.
Trưa ngày mồng 5 Tết, vua Quang Trung ngồi trên lưng voi, áo bào xạm đen khói súng, đi đầu đại quân
tiến vào Thăng Long, giữa cảnh mừng vui khôn xiết của nhân dân.
Từ ngày lập quốc cho đến cuối thế kỷ 18, chưa bao giờ quân dân ta kháng chiến mà tiêu diệt gọn một lực
lượng rất lớn quân giặc trong một thời gian rất ngắn như trận đại phá quân Thanh của Nguyễn Huệ.
Chiến thắng này đã vĩnh viễn chấm dứt nạn xâm lược của tập đoàn phong kiến phương Bắc luôn đe dọa
dân tộc Việt Nam ta trong suốt mấy nghìn năm.
Trong suốt 20 năm chiến đấu, Nguyễn Huệ chưa hề chùn bước. Nguyễn Huệ rất mực yêu quý dân nghèo,
biết trọng dụng nhân tài, có mưu trí tuyệt vời, có lòng gan dạ ít ai bì nổi và đã đánh là thắng. Nguyễn
Huệ là một danh tướng, một nhà quân sự thiên tài, một vị hoàng đế anh minh, là một trong những nhân
vật rất đặc biệt trong lịch sử Việt Nam ta vào nửa đầu thế kỷ 18.
Sưu tầm: 12/6 Đoàn trường THPT Thuận An.



