Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực: Người anh hùng áo vải, khí phách kiên cường
AHDT Nguyễn Trung Trực sinh năm 1838, nguyên quán ở xóm Lưới, làng Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, trấn Bình Định (nay là xã Cát Tiến, tỉnh Gia Lai). Sau khi thực dân Pháp đánh phá duyên hải Trung bộ, gia đình ông phiêu bạt vào Nam và định cư tại tỉnh Long An, nay là tỉnh Tây Ninh. Khi thực dân Pháp chiếm các tỉnh Nam kỳ, AHDT Nguyễn Trung Trực là một trong những người đầu tiên ở Nam bộ phất cờ khởi nghĩa, tập hợp nghĩa quân chống Pháp. Chiến công lừng lẫy mà hậu thế còn lưu truyền, đó là đốt tàu chiến L’Espérance trên sông Nhật Tảo. Sau trận đánh này, ông lãnh đạo nghĩa quân chống giặc trên khắp mặt trận miền Đông, miền Tây Nam bộ, lập nên nhiều chiến công oanh liệt, tiêu biểu là trận đánh chiếm đồn Kiên Giang, làm chủ trung tâm đầu não địch trong 5 ngày, rồi rút ra Phú Quốc, lập căn cứ chống Pháp lâu dài.

AHDT Nguyễn Trung Trực sinh năm 1838, nguyên quán ở xóm Lưới, làng Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, trấn Bình Định (nay là xã Cát Tiến, tỉnh Gia Lai). Sau khi thực dân Pháp đánh phá duyên hải Trung bộ, gia đình ông phiêu bạt vào Nam và định cư tại tỉnh Long An, nay là tỉnh Tây Ninh.
Khi thực dân Pháp chiếm các tỉnh Nam kỳ, AHDT Nguyễn Trung Trực là một trong những người đầu tiên ở Nam bộ phất cờ khởi nghĩa, tập hợp nghĩa quân chống Pháp. Chiến công lừng lẫy mà hậu thế còn lưu truyền, đó là đốt tàu chiến L’Espérance trên sông Nhật Tảo.
Sau trận đánh này, ông lãnh đạo nghĩa quân chống giặc trên khắp mặt trận miền Đông, miền Tây Nam bộ, lập nên nhiều chiến công oanh liệt, tiêu biểu là trận đánh chiếm đồn Kiên Giang, làm chủ trung tâm đầu não địch trong 5 ngày, rồi rút ra Phú Quốc, lập căn cứ chống Pháp lâu dài. Năm 1867, AHDT Nguyễn Trung Trực được phong chức Hà Tiên thành thủ úy, song chưa kịp đến nơi thì thành Hà Tiên rơi vào tay quân Pháp. Không trở về Hà Tiên, ông về Hòn Chông, mở rộng địa bàn hoạt động về vùng U Minh, kết giao với nhiều nhân sĩ yêu nước để củng cố lực lượng, tìm cách tiếp tục tấn công quân Pháp.
Với ý định đánh đồn Kiên Giang, AHDT Nguyễn Trung Trực tập hợp nghĩa quân ở Tà Niên, thuộc làng Vĩnh Hòa Hiệp, cách trung tâm Rạch Giá khoảng 10 km. Một mặt, ông cho người thâm nhập vào trung tâm Rạch Giá để nắm bắt tình hình phòng bị của quân Pháp, mặt khác ông khuyến dụ một số lính mã tà trong đồn Kiên Giang để làm nội ứng.
Đêm 16-6-1868, AHDT Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân từ Tà Niên men theo bờ biển, đổ bộ lên cạnh Lăng Ông, đến gần sáng thì tấn công đồn Kiên Giang. Quân Pháp không kịp phản ứng, nhiều tên bị giết ngay trên giường ngủ, 5 tên lính trốn khỏi đồn nhưng đều bị bắt lại khi đang tìm cách qua sông tẩu thoát. Trong trận đánh này, rất nhiều quân địch bị giết và bắt sống gồm: Chủ tỉnh Chánh Phèn, 5 sĩ quan Pháp, 67 lính và quan chức người Việt làm việc cho Pháp, bắt sống 6 tên, đoạt hơn 100 khẩu súng và một kho đạn.
Ngày 21-6-1868, quân Pháp phản công, chiếm được Sóc Suông và chuẩn bị tái chiếm đồn Kiên Giang. Trước tình hình đó, AHDT Nguyễn Trung Trực phải cho quân lui về Hòn Chông, rồi ra đảo Phú Quốc lập thêm căn cứ chống Pháp. Sau khi căn cứ Kiên Giang thất thủ, ông bị bắt, dù bị giam cầm, tra tấn dụ dỗ ông vẫn kiên trung, không khuất phục, ngày ông bị dẫn ra pháp trường người dân Tà Niên, Rạch Giá, Hà Tiên, Hòn Chông… ai cũng đều thương khóc. Ngày 27-10-1868, chúng đưa ông ra chợ Rạch Giá hành hình. Dân làng Tà Niên nơi ông từng đóng quân đã ngồi suốt đêm dệt những tấm chiếu mới, trải trên con đường ông ra pháp trường, để tiễn biệt người anh hùng về cõi vĩnh hằng.
Đó không chỉ là nỗi thương tiếc, mà còn là lời tiễn biệt của lòng dân Nam bộ đối với người con trung nghĩa. Người chết cho dân, dân dệt chiếu tiễn người, một hình ảnh đẹp, nhưng đau lòng khắc sâu mãi trong tâm thức dân tộc.


