ANH HÙNG DÂN TỘC TRƯƠNG ĐỊNH
ANH HÙNG DÂN TỘC TRƯƠNG ĐỊNH (1820-1864)
Có những quyết định làm thay đổi một cuộc đời, và có những quyết định khắc tên một con người vào lịch sử dân tộc. Đứng trước bản án "nghịch chỉ" của triều đình để chọn lấy con đường sát cánh cùng nhân dân chống giặc, Trương Định đã chọn lấy một chữ "Nghĩa" viết hoa. Hình ảnh ông không chỉ gắn liền với những chiến công vang dội trên chiến trường Gò Công, mà còn là minh chứng sống động cho chân lý: Khi lòng dân đã hòa làm một, không một uy quyền hay vũ khí tối tân nào có thể khuất phục được ý chí của một bậc trượng phu.
Trương Định sinh năm 1820 tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Cha ông là Trương Cầm – một người có công khai khẩn đất đai ở Nam Bộ. Theo cha vào Nam sinh sống, Trương Định tham gia khai hoang, lập đồn điền ở Gò Công (Tiền Giang). Nhờ tài tổ chức và tinh thần nghĩa hiệp, ông được nhân dân tin yêu. Giữa thế kỉ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định, mở đầu quá trình xâm lược Nam Kì. Trước tình hình đó, Trương Định đã tập hợp nghĩa quân đứng lên chống Pháp. Ông chiêu mộ nông dân, xây dựng căn cứ ở Gò Công, Tân Hòa. Nghĩa quân của ông nhiều lần tập kích quân Pháp, gây cho địch nhiều tổn thất.
Năm 1862, triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất, nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kì cho Pháp và ra lệnh giải tán nghĩa quân. Trương Định không tuân lệnh, ở lại cùng nhân dân tiếp tục kháng chiến. Chính vì vậy, nhân dân tôn ông là “Bình Tây Đại Nguyên Soái”. Hành động này thể hiện rõ tinh thần đặt lợi ích dân tộc lên trên sự phục tùng triều đình phong kiến. Năm 1864, do lực lượng chênh lệch và bị bao vây, cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn. Trương Định bị thương nặng và hi sinh để giữ trọn khí tiết. Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương lớn trong nhân dân Nam Bộ. Trong công cuộc chống Pháp ông đã có nhiều thành tựu như năm 1850, ông chiêu mộ dân nghèo khai hoang lập ấp tại Gò Công, sau đóS biến lực lượng này thành nghĩa quân vững mạnh chống Pháp. Tiên phong đánh Pháp từ năm 1859, đặc biệt lập công lớn như phục kích giết chết Đại úy Pháp Barbé (12/1860). Xây dựng căn cứ vững chắc tại Gò Công và Đám lá tối trời, gây nhiều khó khăn cho quân Pháp.
Sau khi ông mất, nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã làm bài văn tế và mười hai bài thơ điếu Trương Định, ca ngợi cuộc đời chiến đấu hào hùng và cái chết lẫm liệt của ông. Hiện nay, ngoài lăng mộ và đền thờ chính tọa lạc tại thị xã Gò Công (Tiền Giang), chính quyền và nhân dân ở nhiều nơi, như Gia Thuận, Tân Phước, Tân Tây, Tân Hòa (Gò Công Đông, Tiền Giang), Bửu Hòa, Phước Hòa (Biên Hòa, Đồng Nai), Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), v.v... còn thiết lập đền thờ và miếu thờ ông. Lễ giỗ Ông ngày 20/8 hàng năm đã trở thành một sự kiện văn hóa và Lễ hội Trương Định đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.
Có thể nói, cuộc đời của Trương Định là một bản anh hùng ca bất tử về lòng trung nghĩa. Dù sự nghiệp cứu nước chưa thành, nhưng tinh thần "thà chết vinh còn hơn sống nhục" của ông đã trở thành ngọn lửa mồi, thổi bùng lên phong trào kháng Pháp mạnh mẽ khắp Nam Kỳ. Hình ảnh vị chủ tướng tuẫn tiết để giữ trọn khí tiết đã tạc vào lịch sử một tượng đài bất khuất. Ngày nay, tên ông không chỉ được đặt cho những con phố, ngôi trường, mà còn được khắc sâu trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam như một biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước và ý chí tự cường dân tộc.



