Anh hùng đào đường hầm trên đồi A1
Lưu Viết Thoảng - Người Anh hùng đào đường hầm trên đồi A1, góp phần làm nên kỳ tích vận chuyển các khối bộc phá gần 1 tấn trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Lưu Viết Thoảng - Người Anh hùng đào đường hầm trên đồi A1, góp phần làm nên kỳ tích vận chuyển các khối bộc phá gần 1 tấn trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Có những con người không thích nói về mình, nhưng lịch sử thì không bao giờ quên họ. Họ là những người lính – trong chiến tranh cũng như trong hòa bình – luặn lặn lẽ làm điểm tựa cho dân tộc. Khi Tổ quốc cần, họ gác lại tất cả: lũy tre làng, mái nhà thơm khói rạ, tiếng mẹ già trông ngóng. Họ bước ra đi với một niềm tin giản dị: có mình ở nơi tuyến đầu, đất nước sẽ còn đứng vững. Ấy là những năm tháng mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau một tiếng nổ, một nhát dao, một hơi thở. Ấy là những chàng trai đôi mươi vẫn cười đùa giữa chiến hào, vẫn nhường nhau từng miếng cơm, từng giọt nước mưa trong những đêm rét căm căm. Có người ngã xuống chẳng kịp nói một lời từ biệt. Có người sống mang theo nỗi đau và cả nhiệm vụ thiêng liêng: "Sống thay cho những người đã nằm xuống." Những câu chuyện về lòng dũng cảm và hy sinh cứ thế được thổi vào tim những thế hệ mai sau. Và hôm nay, câu chuyện mà tôi muốn kể – một câu chuyện hoa lửa – không phải về những vị tướng lẫy lừng, mà về một người thợ đào hầm thầm lặng: anh hùng Lưu Viết Thoảng, người con của quê hương Cảnh Thủy.
| Anh hùng Lưu Viết Thoảng (1926 - 2008) l Quê ở thôn Đông, xã Cảnh Thủy, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố Đông, phường Cảnh Thủy, tỉnh Bắc Ninh). l Tháng 11-1944, Lưu Viết Thoảng nhập ngũ. Từ đó đến tháng 5-1954, cụ liên tục tham gia phục vụ chiến đấu trong nhiều chiến dịch. l Lưu Viết Thoảng là một chiến sĩ công binh dũng cảm, có nhiều sáng tạo trong việc phá bom nổ chậm, góp phần bảo đảm tốt tuyến đường vận chuyển ra phía trước. |
Cụ Lưu Viết Thoảng vốn được điều sang làm công binh khi chiến dịch Điện Biên Phủ đang được gấp rút chuẩn bị. Lúc ấy, cụ chẳng có kinh nghiệm tháo bom, dụng cụ thì thiếu thốn đủ bề. Nhưng cái người lính ấy có một thứ không thiếu: gan. Cụ bảo, "không biết thì học, mày mò rồi cũng quen". Có lần gặp một loại bom mới, chưa ai dám động vào, cụ bảo anh em lùi xa, một mình lọ mọ cả buổi để tìm cách tháo. Thành công hay không chưa biết, nhưng cụ muốn mang về bài học cho cả tổ. Và rồi, chỉ trong một thời gian ngắn, tổ của cụ đã tháo được 18 quả bom, lấy gần 3.600 kg thuốc nổ – thứ quý giá như vàng để phá đá, mở đường cho xe pháo vào trận.
Khi quân Pháp điên cuồng ném bom từ Sơn La đến Tuần Giáo, cụ nhận nhiệm vụ phá bom nổ chậm. Có hôm, địch thả bốn quả bom xuống sát đường, chưa nổ. Xe pháo và dân công sắp qua. Không thể chờ. Cụ Lưu Viết Thoảng lại dẫn đầu, lặn xuống hố bom, đặt thuốc nổ, phá bom ngay trong đêm. Đường lại thông.
Tháng 4 năm 1954, cụ được giao một việc chưa từng có: phụ trách một tổ đào đường hầm, đưa khối bộc phá gần một tấn vào đúng tim lô cốt trung tâm của địch trên đồi A1. Phải hiểu: đồi A1 lúc ấy là cánh cửa thép cuối cùng bảo vệ bộ chỉ huy của tướng De Castries. Mất A1, coi như mất Điện Biên Phủ. Vì thế, quân Pháp phòng thủ ở đó vô cùng kiên cố, bố trí hầm ngầm chằng chịt. Quân ta đã nhiều lần tấn công nhưng tổn thất rất lớn.
Kế hoạch được vạch ra: đào một đường hầm bí mật từ trận địa ta xuyên thẳng đến hầm ngầm của địch, chất một khối thuốc nổ khổng lồ, đánh sập toàn bộ. Ai làm? Đại đoàn 316 chọn Phân đội 83, và Lưu Viết Thoảng là người chỉ huy trực tiếp.
Đêm đầu tiên. Ba người đào cửa hầm. Lát sau, viên trung đội trưởng bộ binh làm nhiệm vụ yểm hộ ở phía trên bị trúng đạn, ngã xuống ngay tại chỗ. Chưa kịp khóc, những người còn lại cắn răng đào tiếp.
Đêm thứ hai. Chia làm bốn tốp, luân phiên nhau. Cụ Lưu Viết Thoảng đứng ở cửa hầm, chỉ huy từng nhịp cuốc. Mới vào được gần một mét, bộ binh yểm hộ lại thêm vài người ngã xuống. Trong hầm, tối như mực, không khí ngột ngạt đến mức chỉ sau nửa tiếng là người khỏe nhất cũng phải bò ra ngoài thở. Vậy mà cứ thế, họ vẫn đào. Thiếu ánh sáng? Cụ nghĩ ra cách buộc đèn pin vào cọc cắm ở cửa hầm, vừa lấy hướng vừa chiếu. Sợ lệch phương hướng? Cụ lấy cây hương nén đốt lên, dùng làn khói thẳng làm chuẩn. Ngột thở? Cả tổ chẻ nứa đan quạt, mấy người nằm ngửa ở cửa hầm quạt gió vào. Mỗi ca chỉ làm được 30 phút, rồi lại đổi.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ai cũng mỏi, ai cũng hoa mắt. Chỉ có một người – cụ Lưu Viết Thoảng – có thể lầm lũi trong hầm hàng giờ liền. Tay bám đá sắc, mũi ngửi mùi thuốc nổ, lưng còng vì không gian chật hẹp. Có người hỏi: "Sao cụ chịu được thế?" Cục cười: "Chịu sao không được, còn đồng đội đang ở ngoài chờ mình."
Cuối cùng, đường hầm cũng hoàn thành. Từng khối bộc phá 10kg, 15kg được chuyền tay nhau, xếp gọn ghẽ trong lòng đất. Tất cả tạo thành một quả bộc phá gần 1.000kg – sức nặng của cả mồ hôi, máu và nước mắt.
Khi mũi đào cuối cùng rút ra, tiếng nổ vang lên như cắt đôi màn đêm. Một phần hầm ngầm và lô cốt mẹ của địch sụp đổ. Trung đoàn 174 xông lên, cờ đỏ phấp phới trên đỉnh đồi A1. Quân Pháp mất điểm tựa cuối cùng.
Chiến công ấy không thể không được ghi nhận. Chủ tịch nước trao tặng cụ Lưu Viết Thoảng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu cao quý nhất: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng điều hơn cả những tấm huân chương, là cụ đã sống một cuộc đời xứng đáng với những người đồng đội đã ngã xuống bên mình.
.
Hôm nay, chiến tranh đã lùi xa. Cụ Lưu Viết Thoảng cũng đã yên nghỉ từ năm 2008. Nhưng câu chuyện về người đào hầm trên đồi A1 vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Nó không chỉ là một bài học về lòng dũng cảm hay kỹ thuật quân sự. Nó là lời nhắc nhở thế hệ trẻ rằng: hòa bình không phải tự nhiên mà có. Nó được đào từng tấc đất, được thắp sáng từng đêm tối, được đổi bằng xương máu của những con người rất đỗi bình dị.
Mỗi lần nhắc đến đồi A1, mỗi lần đọc lại những dòng sử cũ, chúng ta – những người con của đất Việt – hãy nhớ về cụ. Nhớ về một người lính công binh với đôi tay lấm lem bùn đất, với trái tim chẳng biết sợ hãi, đã âm thầm góp phần làm nên một trong những chiến thắng vang dội nhất thế kỷ XX. Và từ câu chuyện ấy, hãy sống sao cho xứng đáng: yêu nước không phải lời nói hoa mỹ, mà là hành động nhỏ mỗi ngày, là trách nhiệm giữ gìn và xây dựng quê hương, để những hy sinh của cha ông không bao giờ là vô nghĩa.


