Anh hùng Điện Biên Phùng Văn Khầu – Mãi theo gương Bác

Anh hùng Điện Biên Phùng Văn Khầu sinh năm 1930 tại xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Năm 15 tuổi, Phùng Văn Khầu đã tham gia các hoạt động cách mạng ở địa phương khi còn đi ở để trả nợ và kiếm sống. Quãng thời gian tham gia vào đoàn thể ở Đức Hùng, Trùng Khánh, Cao Bằng đã cho cậu thiếu niên Phùng Văn Khầu mau chóng trưởng thành. Phùng Văn Khầu sớm hiểu rằng, chỉ có cách mạng, chỉ có bộ đội Việt Minh và Bác Hồ mới đem lại độc lập tự do cho người Nùng, cho Cao Bằng, cho các dân tộc anh em toàn đất nước Việt Nam. Năm 1946, Phùng Văn Khầu tham gia hoạt động ở địa phương, khi làm liên lạc, khi làm chiến sĩ an ninh, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc.
Trước thái độ hung hăng, ngạo mạn của thực dân Pháp, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp (ngày 18, 19/12/1946) tại làng Vạn Phúc (nay thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, TP Hà Nội), dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kịp thời hạ quyết tâm phát động Toàn quốc kháng chiến và chủ động mở cuộc giao chiến lịch sử, trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch đảo chính quân sự ở Hà Nội. Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20h ngày 19/12/1946, Hà Nội đi đầu, nổ súng tấn công quân Pháp, mở đầu cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Cùng với Hà Nội, dân quân ta tại các đô thị Bắc Vĩ tuyến 16 cũng nổ súng tấn công địch. Sáng ngày 20/12/1946, Đài Tiếng nói Việt Nam phát “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kêu gọi đồng bào cả nước và các lực lượng vũ trang nhất tề đứng lên đánh quân xâm lược, giữ độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Lời kêu gọi của Bác cũng chính là lời hịch của non sông, tiếng thét gầm của một dân tộc anh hùng đã ngót trăm năm chìm trong nô lệ tối tăm quyết vùng lên đòi lại, giữ gìn nền độc lập, dù có thể trả giá bằng mạng sống. Những ngày tháng ấy với người chiến sĩ Phùng Văn Khầu vừa quyết liệt sục sôi vừa thấy mình lớn bổng lên như Phù Đổng.
Tháng 12/1949, Phùng Văn Khầu xung phong vào bộ đội, sau được biên chế vào Trung đoàn 675. Không biết chữ, không biết sử dụng máy ngắm nên ngày đầu làm quen với khẩu pháo thật khó khăn, Phùng Văn Khầu chỉ còn cách ngắm bắn qua nòng bằng mắt thường. Mỗi viên đạn pháo là tiền bạc máu xương gom góp của nhân dân không thể nào phí phạm. Nhưng còn phí phạm hơn nếu viên đạn ấy không kịp thời bay thẳng vào lô cốt địch, phá tan xe tăng, ụ pháo địch một cách quả đoán, chính xác. Bài học giản dị ấy chiến sĩ pháo binh Phùng Văn Khầu đã học được và đặc biệt là đã thực hành xuất sắc trong các trận đánh ở các chiến dịch mà Trung đoàn Pháo binh 675 lừng danh dội bão lửa xuống quân thù trên khắp vùng Tây Bắc, Việt Bắc trong các chiến dịch Biên Giới, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954.
Trong từng trận đánh, đồng đội ngày càng nhận ra phẩm chất đặc biệt và sự mưu trí, dũng cảm, sáng tạo của Phùng Văn Khầu. Phùng Văn Khầu luôn bàn với các đồng đội trong khẩu đội pháo của mình vừa rèn luyện vừa sáng tạo. Sáng tạo trong việc tháo dỡ pháo thành nhiều bộ phận để khênh vác, vận động trên mọi địa hình phức tạp của chiến trường.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Chiến dịch Điện Biên Phủ là một dấu mốc đặc biệt với Quân đội nhân dân Việt Nam, nó chứng minh đúng lời Bác Hồ căn dặn Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân trước đó mười năm tại cánh rừng Việt Bắc.
Về trận chiến đấu trên đồi E1 đã đi vào lịch sử, Anh hùng Điện Biên Phùng Văn Khầu kể lại tường tận: “… Đêm mùng 2/4/1954, 3 khẩu đội pháo của Đại đội 755 (Tiểu đoàn 275, Trung đoàn 675, Đại đoàn 351) chúng tôi được lệnh đưa pháo lên đồi E1 để chuyển sang phòng ngự. Quân số của đại đội lúc này chỉ còn 30 người. Nhiệm vụ của sơn pháo 75mm là ngắm bắn trực tiếp diệt pháo, xe tăng và bộ binh địch phản kích. Các khẩu đội được bố trí trong công sự có nắp, kín đáo, địch không thể phát hiện được, kể cả ban ngày khi ta chưa nổ súng. Từ ngày 5 đến 17/4, Khẩu đội 1 của tôi được lệnh hằng ngày thực hiện bắn thăm dò xem nơi địch bố trí hỏa lực để khi có thời cơ thì tiêu diệt. Thực sự bắn pháo thăm dò chẳng khác gì lấy gậy chọc vào tổ ong! Bởi nếu ngụy trang không khéo thì địch sẽ giội mưa đạn vào trận địa của mình. Nhưng nhờ rừng núi, chúng tôi lại đào hầm, đưa pháo vào trong nên bọn địch như bị bưng tai bịt mắt.
12 giờ ngày 23/4, địch mở đợt phản công quy mô lớn với 2 tiểu đoàn bộ binh, có 5 xe tăng và pháo binh yểm trợ đánh vào bộ binh ta đang bao vây, tiến công, đánh lấn, đào hào, cắt đôi Sân bay Mường Thanh. Lúc đó, pháo yểm trợ của địch đã kéo ra ngoài công sự, chúng có 4 khẩu. Khẩu đội 2 và Khẩu đội 3 vừa mở miệng hầm pháo thì xe tăng địch phát hiện bắn vào làm hai khẩu đội của ta thương vong. Lúc này, Khẩu đội 1 của tôi chỉ còn 4 đồng chí. Chỉ huy đại đội gọi tôi lên hầm giao nhiệm vụ và thông báo cho tôi biết tổn thất của đơn vị. Tôi tự nhủ phải quyết tiêu diệt bằng được 4 khẩu pháo của địch. Sau khi bắn 6 viên đạn tiêu diệt được hai khẩu pháo và phá hủy một hầm đạn của địch thì chúng phát hiện ra hầm pháo của tôi. Đại liên của địch bắn như vãi đạn. Một đồng chí trong khẩu đội bị thương gãy tay. Tôi cử đồng chí Chài dìu đồng chí bị thương về phía sau rồi quay nòng pháo bắn trúng hai khẩu đại liên của địch. Tôi giục Khẩu Đội phó kiêm Pháo thủ nạp đạn Lý Văn Pao chạy đi báo tin đại liên của địch đã bị tiêu diệt... Còn một mình với khẩu pháo, tôi vẫn kiên quyết đánh địch. Ngắm khẩu thứ ba của địch, tôi một mình vừa làm pháo thủ ngắm bắn, nạp đạn, vừa quan sát mục tiêu, điểm nổ để điều chỉnh và bắn liền 3 phát. Khẩu pháo thứ ba của địch bị tiêu diệt. Lúc này Pao quay lại, báo tin là Chài cũng đã bị thương. Tôi nói với Pao: “Chúng ta là hai đảng viên, phải chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Địch còn một khẩu nữa thôi...”.
Xe tăng của địch bắn nhiều phát gần trúng lỗ châu mai. Tôi bị sức ép ngất đi, nhưng nhờ đồng đội cấp cứu nên một lúc sau thì tỉnh. Nhìn xuống thấy địch đang kéo khẩu pháo thứ tư vào hầm, tôi lệnh đồng chí Pao vào vị trí chiến đấu. Sau đó, tôi bắn một phát trúng ngay khẩu pháo thứ tư của địch. Trận này, tôi và Lý Văn Pao bắn 15 viên đạn, tiêu diệt được 4 khẩu pháo 105mm, 2 khẩu đại liên, 1 hầm đạn... Sau 36 ngày đêm chiến đấu trên đồi E1, khẩu đội tôi đã tiêu diệt 4 lô cốt, 5 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu đại liên, 1 kho đạn và nhiều sinh lực địch…”.
Có lẽ, trong lịch sử pháo binh Việt Nam, chưa có một người nào có thể tự vận hành một khẩu sơn pháo 75 ly bắn hạ pháo 105 ly trong chiến trường đầy lửa đạn như Anh hùng Phùng Văn Khầu đã làm được trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gần 70 năm đã trôi qua, hình ảnh người chiến sĩ pháo binh ấy đã trở thành một dấu ấn khó quên trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Đây cũng là sự khẳng định đanh thép chính nghĩa tất thắng của đội quân yêu nước và sự tất bại của đội quân xâm lược. Điện Biên Phủ chính là dấu mốc đánh dấu sự kết thúc của đội quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, cũng là một trong những điểm khởi đầu quan trọng của sự trưởng thành toàn diện của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng mà trong đó người con dân tộc Nùng - Phùng Văn Khầu vinh dự được đứng trong đội ngũ.
Ngay sau Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Phùng Văn Khầu được thay mặt đơn vị cùng với các đồng chí cán bộ chiến sĩ tiêu biểu báo công với Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc, báo công với Bác Hồ, được Bác ôm hôn, tặng Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên và ân cần căn dặn: “Các chú chớ vì thắng mà kiêu, chớ được chủ quan khinh địch. Hôm nay, Bác tặng Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ cho các chú. Các chú phải khiêm tốn học hỏi, tiếp tục phấn đấu để cùng nhau tiến bộ. Các chú có làm được như thế không?”. Lời dạy đó của Bác đã khắc sâu vào tâm trí và động viên Phùng Văn Khẩu suốt quá trình chiến đấu và công tác sau này./.


