Anh hùng Lực lượng vũ trang

ANH HÙNG ĐỖ XUÂN HỢP

ANH HÙNG ĐỖ XUÂN HỢP

Lai Châu17/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đỗ Xuân Hợp sinh năm 1906, dân tộc Kinh, quê ở phố Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, nhập ngũ tháng 11 năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Thiếu tướng, giáo sư, nguyên hiệu trưởng trường Đại học Quân y. Trước Cách mạng tháng Tám, Đỗ Xuân Hợp là giáo sư trường Đại học Y Đông Dương, đồng chí tham gia các hội cứu tế, hội chữ thập đỏ, khám bệnh cho người nghèo. Từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 6 năm 1946, đồng chí là Chủ tịch ủy ban khu phố Chợ Hôm, Hội trưởng Hội cứu đói toàn quốc. Tháng 7 năm 1946, Đỗ Xuân Hợp là một trong một số sáng lập viên Đảng Xã hội Việt Nam, sáng lập viên Hội chữ thập đỏ Việt Nam. Từ tháng 11 năm 1946 đến nay Đỗ Xuân Hợp liên tục phục vụ quân đội. Đồng chí đã giữ các cương vị: Viện trưởng Viện Quân y 10, Hiệu trưởng trường Quân y sĩ, trường Sĩ quan Quân y, trường Đại học Quân y, chuyên viên Viện Nghiên cứu y học quân sự. Ở cương vị nào, đồng chí cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy công tác, có nhiều cống hiến xuất sắc cho ngành quân y. Đỗ Xuân Hợp rất say mê nghiên cứu khoa học. Đồng chí đã có hơn 100 công trình; viết 15 cuốn sách giáo khoa dùng cho cán bộ từ trình độ y tá đến bác sĩ, có nhiều công trình có giá trị cao như: Công trình nghiên cứu về đặc điểm, giải phẫu và nhân học người Việt Nam. Công trình bàn về kết hợp 2 nền y học trong y học nói chung và hình thái học nói riêng. Tài liệu "Một số thuyết cơ bản y học cổ truyền của các dân tộc qua các thời đại" in năm 1978, được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đọc và viết thư khen ngợi. Đỗ Xuân Hợp còn trực tiếp chỉ đạo đề tài nghiên cứu nhân trắc học người Việt Nam, làm cơ sở ứng dụng trong các binh chủng, quân chủng. Đỗ Xuân Hợp là người chỉ đạo biên soạn cuốn Từ điển thuật ngữ giải phẫu bằng 4 thứ tiếng (La-tinh, Pháp, Anh, Việt). Đồng chí là người đầu tiên trong ngành y của ta xây dựng nên hệ thống ngôn ngữ nói chung và ngành giải phẫu Việt Nam nói riêng. Đồng chí đã đề xuất và thực hành giảng dạy kiến thức chuyên môn y học hoàn toàn bằng tiếng Việt ở trường Đại học y từ trong kháng chiến chống Pháp. Ngay từ năm 1946, Đỗ Xuân Hợp đã viết sách bằng tiếng Việt "Cuốn sổ tay thực hành bệnh viện" và năm 1952, đồng chí viết cuốn "Giải phẫu tứ chi và thực dụng ngoại khoa", được Bác Hồ khen ngợi và tặng Huân chương Kháng chiến hạng ba cho cuốn sách thứ 2. Đỗ Xuân Hợp rất quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ trẻ. Đồng chí đã trực tiếp hướng dẫn cho ngành giải phẫu Việt Nam được 3 phó giáo sư, 10 tiến sĩ y khoa, và nhiều đồng chí nay trở thành chuyên viên đầu ngành của Nhà nước và quân đội. Đỗ Xuân Hợp không những hoàn thành tốt nhiệm vụ trong quân đội mà còn hoàn thành xuất sắc các trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó như: Đại biểu Quốc hội từ khóa 2 đến khóa 6 (Ủy viên Thường vụ Quốc hội khóa 4); Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa 3 và 4; Chủ tịch hội Thái - Việt Nam; giáo sư trường Đại học y khoa Hà Nội. Đỗ Xuân Hợp là một trí thức cách mạng, sống giản dị, khiêm tốn, liêm khiết, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng, vì chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp chung của ngành quân y. Đồng chí được các tầng lớp trí thức trong ngành y mến phục. Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhì; Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Quân công hạng ba; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba. Ngày 29 tháng 8 năm 1985, Đỗ Xuân Hợp được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn