Anh hùng Đoàn Minh Nguyệt – Người lính lái xe trên tuyến lửa Trường Sơn
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Minh Nguyệt sinh năm 1932, quê ở Kim Động, Hưng Yên. Trước khi nhập ngũ, ông là công nhân viên của Viện Thiết kế Thủy lợi. Năm 1963, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ngày càng ác liệt, với mong muốn được trực tiếp góp sức cho đất nước, ông đã khai hạ tuổi để đủ điều kiện nhập ngũ. Sau một thời gian công tác tại Trung đoàn 36, Sư đoàn 308, năm 1965, ông được điều về Cục Hậu cần Quân khu 4, làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, vũ khí, lương thực từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam qua đất nước Lào.
Những năm ấy, Quân khu 4 là một trong những địa bàn bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt nhất. Đường sá liên tục bị bom phá, mưa lũ chia cắt, nhưng những chuyến xe chở hàng và bộ đội vẫn phải vượt qua để bảo đảm cho chiến trường. Tháng 4-1965, ông Đoàn Minh Nguyệt lần đầu nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng vào miền Nam theo tuyến đường Trường Sơn qua Lào. Cung đường ông phụ trách bắt đầu từ Khe Ve (Quảng Bình), đi qua các tỉnh Khammuan, Savannakhet, Attapeu của Lào rồi tập kết hàng để tiếp tục chuyển vào chiến trường. Đường rừng mùa mưa lầy lội, máy bay Mỹ thường xuyên đánh phá, vì vậy mỗi chuyến đi đều là một cuộc thử thách về ý chí, sức khỏe và kỹ năng của người lái xe.
Trong một lần qua ngầm Xuyên Phan, tỉnh Savannakhet, chiếc xe Gaz 63 do ông điều khiển không may trúng bom. Máu chảy ướt cả lưng áo, nhưng ông vẫn cố gắng lái xe đến trạm gần nhất để giữ xe và hàng. Khi tỉnh lại, ông mới biết mình bị 32 mảnh bom găm vào cơ thể. Sau hơn một tháng điều trị, dù sức khỏe chưa hoàn toàn bình phục, ông vẫn xin ra viện để tiếp tục trở lại tuyến đường Trường Sơn. Có lần, xe bị mắc kẹt tại Khammuan suốt một tháng vì nước lũ. Thiếu lương thực, bốn anh em lái xe phải ăn măng, rau rừng rồi vượt lũ hơn 50km để tìm gạo. Dù đói khát và hiểm nguy, họ vẫn nhất quyết không bỏ xe, bởi với những người lính lái xe Trường Sơn, giữ được xe cũng là giữ được phương tiện để tiếp tục đưa hàng ra chiến trường.
Từ năm 1965 đến năm 1968, ông Đoàn Minh Nguyệt cùng đồng đội đã thực hiện hơn 600 chuyến vận chuyển, đưa trên 1.000 tấn vũ khí, lương thực và hàng nghìn chiến sĩ vào chiến trường, với tổng chiều dài hành trình hơn 95.000km. Những thành tích ấy đã đưa ông trở thành một trong những tấm gương tiêu biểu của lực lượng lái xe quân sự Quân khu 4. Tháng 8-1968, ông được chọn ra Hà Nội báo cáo điển hình tại Hội nghị “Chiến sĩ lái xe giỏi và thợ sửa chữa xe giỏi toàn quân”. Đặc biệt, tại hội nghị này, ông có niềm vinh dự lớn khi được gặp Bác Hồ và được Bác trao Huy hiệu. Kỷ niệm ấy trở thành nguồn động viên để ông tiếp tục vượt qua những thử thách khắc nghiệt trên tuyến đường chiến đấu.
Giữa năm 1969, ông cùng ba đồng đội tiếp tục nhận nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, lương thực cho chiến trường Nam Lào. Mưa lớn kéo dài khiến cầu, ngầm trên đường bị cuốn trôi, trong khi bom mìn còn sót lại rất nhiều. Để đưa hàng đến nơi an toàn, ông và đồng đội vừa đi vừa chặt cây làm cầu. Trong suốt hai tháng, họ đã dựng được 22 cầu và ngầm để vượt qua những đoạn đường bị chia cắt. Có những cung đường trong điều kiện bình thường chỉ mất khoảng 5 ngày, nhưng khi mưa lũ, họ phải mất hàng tháng mới hoàn thành nhiệm vụ. Với tinh thần bám đường, bám xe, không ngại gian khổ, nguy hiểm, ông luôn đặt nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, vũ khí đến chiến trường lên hàng đầu.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tháng 8-1970, ông Đoàn Minh Nguyệt được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cuối năm 1974, từ một người lính lái xe, ông được giao làm Đại đội trưởng Đại đội 2, Trung đoàn 10, Đoàn 559. Trên cương vị mới, ông trực tiếp chỉ huy đơn vị tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục công tác tại Cục Hậu cần Quân khu 4 cho đến khi nghỉ hưu năm 1983. Trở về cuộc sống đời thường, ông vẫn giữ tinh thần năng động, không ngại khó khăn của người lính năm xưa. Ông đầu tư kinh doanh nhà hàng, khách sạn, đồng thời thuê gần 20.000m² ao đầm để nuôi trồng thủy sản. Những hoạt động này không chỉ giúp phát triển kinh tế gia đình mà còn tạo việc làm cho hàng chục lao động tại địa phương. Bên cạnh đó, ông tích cực tham gia các phong trào xã hội, hoạt động của Hội Nạn nhân chất độc da cam và Hội Quân tình nguyện Việt Nam – Lào.
Từ một người công nhân tình nguyện nhập ngũ, Đoàn Minh Nguyệt đã trở thành người lính lái xe dày dạn trên tuyến lửa Trường Sơn, nhiều lần đối mặt với bom đạn, mưa lũ và những hiểm nguy luôn cận kề. Hơn 600 chuyến xe, hơn 1.000 tấn hàng cùng hàng nghìn chiến sĩ được ông và đồng đội đưa đến chiến trường là những con số cho thấy sự hy sinh và đóng góp lớn lao của những người lính vận tải năm ấy. Hình ảnh Anh hùng Đoàn Minh Nguyệt vì thế không chỉ gắn với những chiến công trong chiến tranh mà còn là biểu tượng của lòng dũng cảm, sự bền bỉ và tinh thần trách nhiệm, luôn sẵn sàng vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao.



