ANH HÙNG DƯƠNG CÔNG SỬU – VỊ TƯỚNG TRƯỞNG THÀNH TỪ TRẬN MẠC

Có những người bước vào chiến tranh khi tuổi đời còn rất trẻ, không nghĩ mình sẽ trở thành anh hùng, càng không nghĩ một ngày tên tuổi của mình sẽ được nhắc lại như một phần của lịch sử. Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Dương Công Sửu là một người như thế. Ông sinh năm 1950, là người dân tộc Tày, quê ở Bắc Sơn, Lạng Sơn, vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Cha ông từng là cán bộ Việt Minh, nhiều lần bị địch bắt. Chính hoàn cảnh gia đình và truyền thống quê hương đã sớm hun đúc ở ông sự gan dạ, quyết đoán và ý chí chiến đấu.
Tháng 7/1967, khi vừa tròn 17 tuổi, Dương Công Sửu tình nguyện nhập ngũ, lên đường vào Nam chiến đấu. Sau thời gian hành quân gần bốn tháng, ông có mặt tại chiến trường và nhanh chóng trưởng thành qua thực tế chiến đấu. Từ năm 1968 đến 1973, ông hoạt động tại chiến trường Nam Bộ và Campuchia, tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ. Khi được phong tặng danh hiệu Anh hùng năm 1973, ông mới 23 tuổi, đang là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 28 Đặc công, Sư đoàn 7.
Trong những năm tháng ấy, ông nổi bật bởi khả năng trinh sát, tổ chức trận đánh và chỉ huy bộ đội trong những tình huống cực kỳ nguy hiểm. Ông từng tham gia các trận Nam Suối Ngô, cầu sắt Bà Chiêm, Tây Nam Suông, đường 13, Cây Cầy và Lai Khê. Đây đều là những trận đánh mà người lính phải đối mặt với lực lượng và hỏa lực mạnh của đối phương, nhưng ông luôn giữ được sự bình tĩnh và quyết đoán.
Đáng nhớ nhất là trận phục kích chốt chặn Tây Nam Suông ngày 28/3/1971. Đơn vị của ông nhận nhiệm vụ chặn quân địch, không cho lực lượng từ phía Đông tiến lên giải vây và cũng không để quân địch từ phía Tây tháo chạy. Do yêu cầu gấp, bộ đội phải hành quân liên tục để kịp chiếm lĩnh trận địa trước sáng. Khi đến nơi, trận địa lại nằm giữa khu vực khá trống trải, khiến nguy cơ bị phát hiện rất cao. Không lâu sau, pháo binh địch dồn dập trút xuống, tiếp đó là bộ binh và xe tăng tiến công. Ông cùng đồng đội kiên quyết đánh trả, khiến nhiều xe địch bốc cháy và đội hình đối phương bị rối loạn.
Trận đánh ngày càng ác liệt khi địch liên tục dùng pháo binh, máy bay, bộ binh và cơ giới để phá trận địa. Dương Công Sửu vừa chỉ huy chiến đấu, vừa trực tiếp đến từng vị trí động viên bộ đội và giúp đỡ thương binh. Khi tổ chức đưa thương binh rút lui, máy bay địch phát hiện đội hình và đánh chặn. Ông cùng đồng đội đã tìm cách thu hút hỏa lực để những người khác có thể rút an toàn. Đặc biệt, khi đồng chí Vọng bị thương nặng, ông nhất quyết không bỏ lại đồng đội mà tìm cách đưa người bị thương trở về. Kết thúc trận đánh, đơn vị tiêu diệt nhiều quân địch, phá hủy xe cơ giới và hoàn thành nhiệm vụ chốt chặn quan trọng.
Sau chiến thắng Tây Nam Suông, ông tiếp tục chỉ huy những trận đánh nhỏ trên đường 13 nhằm ngăn chặn việc vận chuyển và tiếp tế của đối phương. Trong một trận phục kích, ông tổ chức lực lượng bí mật bố trí gần tuyến đường, chờ đoàn xe địch lọt vào trận địa rồi đồng loạt tiến công. Kết quả, đơn vị phá hủy 3 xe, tiêu diệt 40 tên địch, bắt 6 tù binh và thu nhiều vũ khí. Những chiến công liên tiếp giúp ông nhiều lần được phong tặng các danh hiệu như Dũng sĩ Diệt Mỹ, Dũng sĩ Quyết thắng, Dũng sĩ Diệt xe cơ giới.
Trong chiến tranh, ông cũng nhiều lần bị thương. Năm 1969, một mảnh đạn găm vào gót chân khiến ông phải chuyển về bệnh viện hậu cứ. Điều đặc biệt là khi còn chiến đấu, ông gần như không cho phép bản thân nghĩ đến nguy hiểm hay nhớ nhà. Chỉ đến khi nằm viện, nỗi nhớ quê hương và gia đình mới ùa về. Có thời gian ông còn nghĩ mẹ mình có lẽ đã qua đời vì mẹ vốn thường xuyên đau bệnh, nên trong những lá thư gửi về hậu phương ông thậm chí không dám nhắc đến mẹ. Một năm sau khi ông nhập ngũ, người anh trai cũng lên đường chiến đấu. Hai anh em tình cờ gặp nhau giữa chiến trường miền Đông Nam Bộ, chỉ kịp nhận ra nhau, hỏi thăm trong giây lát rồi lại phải chia tay để trở về đơn vị.
Sau nhiều năm chiến đấu, những cống hiến của Dương Công Sửu được ghi nhận bằng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1973, khi ông mới 23 tuổi. Một nguồn tư liệu khác ghi nhận trong quá trình chiến đấu ông đã tham gia 31 trận, tiêu diệt 149 tên địch, trong đó có 30 lính Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện và công sự của đối phương.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông trở về quê hương và tiếp tục công tác trong quân đội. Từ năm 1990 đến 1999, ông giữ chức Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Trong thời gian này, ông tham gia chỉ đạo nhiệm vụ quốc phòng, phòng thủ biên giới và xử lý nhiều vấn đề quan trọng. Năm 1990, ông còn chỉ đạo lực lượng rà phá bom mìn, mở đường lên cửa khẩu Hữu Nghị phục vụ chuyến đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau đó, từ năm 2000 đến 2010, ông giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 1, tiếp tục đóng góp trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và bảo vệ biên giới.
Điều đáng quý ở Dương Công Sửu là sau tất cả những chiến công, ông không xem mình là một người đặc biệt. Ông từng nói rằng khi ra trận, ông và đồng đội không nghĩ đến chuyện trở thành anh hùng hay tướng lĩnh. Trước mắt họ chỉ có một mục tiêu: chiến đấu để giải phóng đất nước. Vì vậy, khi kể lại quá khứ, ông thường nhắc đến đồng đội và những người đã hy sinh nhiều hơn nhắc đến bản thân.
Từ một chàng trai Tày 17 tuổi rời quê Bắc Sơn lên đường cứu nước, Dương Công Sửu đã trải qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh, trưởng thành từ người lính thành cán bộ chỉ huy rồi trở thành vị tướng. Nhưng phía sau hình ảnh một người chỉ huy quyết đoán trên chiến trường vẫn là một người lính giản dị, coi trọng tình đồng đội và trách nhiệm. Ông được nhớ đến không chỉ bởi những trận đánh và danh hiệu Anh hùng, mà còn bởi cả một tuổi trẻ đã dành trọn cho Tổ quốc.



