Anh hùng Dương Đức Thùng
Nhìn nụ cười hiền hậu và đôi bàn tay chai sần của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Dương Đức Thùng, ít ai nghĩ rằng ông từng trải qua những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ, hiểm nguy trên nhiều chiến trường ở miền Đông Nam Bộ và đất bạn Campuchia.
Ông Dương Đức Thùng sinh năm 1954 tại Cao Bằng, một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Năm 1974, khi vừa tròn đôi mươi, ông tình nguyện nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện bộ binh, ông được bổ sung vào Binh chủng Công binh và cùng đơn vị vào Nam chiến đấu trong đội hình Quân đoàn 4 (nay là Quân đoàn 34).
Trong những năm tháng chiến tranh, ông cùng đồng đội tham gia nhiều trận đánh ác liệt. Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tiểu đội trưởng Dương Đức Thùng đã cùng đồng đội chiến đấu tại Bến Cát, Xuân Lộc và tham gia tiến công căn cứ thủy quân lục chiến của địch ở Sóng Thần. Với tinh thần dũng cảm, nhanh trí và quyết đoán, đơn vị ông đã làm chủ trận địa, buộc địch phải tan rã, tháo chạy, góp phần mở đường cho các đơn vị chủ lực tiến về giải phóng Sài Gòn.
Đất nước thống nhất, nhưng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vẫn tiếp tục. Ông lại lên đường làm nhiệm vụ tại biên giới Tây Nam và trên đất Campuchia. Khi làm Đội trưởng Đội Vận động quần chúng tại xã Dei Edth, huyện Kien Svay, tỉnh Kandal, ông nhiều lần cải trang, luồn qua các chốt gác của Khmer Đỏ để nắm tình hình, tổ chức lực lượng bắt giữ các đối tượng cầm đầu và thu giữ vũ khí.
Do liên tục phá vỡ các hoạt động của địch, ông từng bị Khmer Đỏ treo thưởng 10 lạng vàng để truy sát. Nhưng ông không vì thế mà lùi bước. Ông tiếp tục bám địa bàn, gần gũi với người dân và dựa vào sự che chở của bà con để hoàn thành nhiệm vụ.
Ông Thùng nhớ lại: “Trong khi quân Khmer Đỏ tàn độc với nhân dân, thì chúng tôi xây dựng được niềm tin tuyệt đối từ bà con. Lời Bác Hồ dạy: Giúp bạn là giúp mình, chính là ngọn lửa sưởi ấm, tiếp sức cho tôi vượt qua lằn ranh sinh tử”.
Chính tình cảm của người dân Campuchia đã nhiều lần giúp ông thoát khỏi những cuộc phục kích nguy hiểm. Qua đó, ông càng thấm thía rằng muốn hoàn thành nhiệm vụ thì phải gần dân, tin dân và dựa vào dân.
Những chiến công của ông được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Ngày 25-1-1983, khi đang là Chuẩn úy, Đại đội trưởng Công binh, Tiểu đoàn 4, Lữ đoàn Công binh 25, Quân đoàn 4, ông vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Người anh hùng hết lòng vì cộng đồng
Sau khi trở về từ chiến trường, trên cơ thể vẫn còn những vết thương chiến tranh, ông Dương Đức Thùng tiếp tục sống giản dị và dành nhiều tâm huyết cho cộng đồng. Với ông, được trở về sau chiến tranh là một may mắn, vì vậy càng phải sống có trách nhiệm với quê hương và những đồng đội đã hy sinh.
Tại khu phố 1, phường Đồng Xoài, ông được bà con và đồng đội quý mến bởi sự gần gũi, chân thành. Với mọi người, ông không chỉ là một người anh hùng có nhiều huân, huy chương mà còn là người chú, người bác luôn sẵn lòng giúp đỡ hàng xóm.
Một việc làm khiến nhiều người cảm phục là gia đình ông đã hiến hơn 1.000m² đất để địa phương mở rộng đường giao thông, tạo thuận lợi cho người dân đi lại. Đây là phần đất có giá trị được gia đình tích góp qua nhiều năm.
Khi được hỏi vì sao lại quyết định hiến đất, ông chỉ cười và nói: “Vì sự thuận tiện, văn minh cho quê hương, thì cần phải bắt tay vào làm ngay, suy tính làm gì cho thiệt hơn”.
Không chỉ hiến đất, ông còn đi từng ngõ, đến từng nhà để vận động bà con đồng thuận bàn giao mặt bằng đúng tiến độ. Ông luôn cho rằng mỗi người nếu biết nhường một chút lợi ích riêng vì lợi ích chung thì quê hương sẽ ngày càng phát triển.
Với ông Dương Đức Thùng, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân không chỉ gắn với những chiến công trong chiến tranh mà còn được thể hiện qua cách sống, cách ông đối xử với mọi người trong thời bình. Từ chiến trường đến cuộc sống hôm nay, ông vẫn giữ nguyên tinh thần trách nhiệm, sự giản dị và tấm lòng vì cộng đồng.
Câu chuyện về người anh hùng Dương Đức Thùng vì thế không chỉ là câu chuyện về một người lính từng đi qua chiến tranh, mà còn là bài học đẹp về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh vì cộng đồng. Đó cũng là cách để thế hệ trẻ hôm nay hiểu hơn giá trị của hòa bình và biết trân trọng những gì mình đang có.



