Bài viết

Anh hùng Hà Văn Dân

Thanh Hóa14/08/2026Xã Thiện Tín (Đoàn xã Thiện Tín)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Hà Văn Dân sinh năm 1947, là người dân tộc Thái, quê ở xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, công nhân vận chuyển bè, trạm lâm sản huyện Quan Hóa, Ty Lâm sản tỉnh Thanh Hóa.

Thủa nhỏ, Hà Văn Dân mồ côi cả cha lẫn mẹ, cuộc sống rất cơ cực. Năm 17 tuổi, anh được nhận vào làm công nhân Công ty Lâm nghiệp Quan Hóa. Hà Văn Dân phải học cách buộc dây, xoắn lạt, kết bè, chèo thuyền, chống mảng suốt một năm trời mới chính thức được đi bè vận tải dọc sông Mã. Trạm lâm sản huyện Quan Hóa làm việc trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, sinh hoạt thiếu thốn, muỗi vắt nhiều, bệnh tật phát triển, nhất là bệnh sốt rét. Ngoài ra còn phải chống trả với máy bay Mỹ thường xuyên đến đánh phá. Phải hoạt động trong điều kiện như vậy, nhưng Hà Văn Dân luôn nêu cao tinh thần làm chủ tập thể, có ý thức trách nhiêm cao, dám nghĩ, dám làm, không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Thời điểm ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang trong giai đoạn gian khổ, ác liệt. Luồng, gỗ từ miền tây Thanh Hóa được đưa ra chiến trường để làm công sự, hầm, lán cho bộ đội, đặc biệt là làm cầu phao dã chiến bắc qua các con đường chiến lược, như cầu Hàm Rồng, Ghép, Mục Sơn, Lèn... Có thể nói, mỗi cây luồng, thân gỗ là một "viên đạn" của hậu phương gửi ra chiến trường, góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Đơn vị vận tải của Hà Văn Dân chịu trách nhiệm thu gom luồng, gỗ từ khắp thượng nguồn sông Lò, sông Luồng, sông Mã, tập kết về bến Hồi Xuân (Quan Hóa), rồi vận chuyển xuống Cửa Hà (huyện Cẩm Thủy). Đây là hành trình đường thủy cực kỳ gian nan và hiểm trở khôn cùng, sơ sẩy một chút là lật bè, vỡ bè, mất mát tài sản của Nhà nước, của nhân dân. Dòng sông Mã hiểm nguy là vậy, song Hà Văn Dân cùng những đồng đội đã hàng trăm lần chinh phục. Với những chuyến bè gỗ (thường từ 11 - 12 khối), bè luồng (chừng 500 - 600 cây), họ vận chuyển trên sông suốt bốn mùa.

Ký ức và kinh nghiệm qua những thác ghềnh hiểm trở trên sông Mã như đã ngấm vào máu, ghi vào tâm can Hà Văn Dân. Đã buông tay chèo hơn 1/3 thế kỷ, nhưng đồng chí vẫn kể vanh vách về mcg chenh thác: "Qua Chiêng, co o mnở:, dưới có nhiều hòn đá to nên phải đi bên phải. Qua ghềnh Long thì phải đi bên trái nếu không sẽ bị hất vào vách đá đoạn khúc khuỷu ngay bên dưới... Nếu đi không đúng luồng, cả người và bè đều bị đập tan tành". Khi thắng được thiên nhiên rồi thì vẫn còn lũ "giặc trời" Mỹ. "Giặc Mỹ bắn phá rất ác liệt, không thể đi ban ngày, chúng tôi toàn phải vận chuyển vào ban đêm".

Ấn tượng nhất đối với Hà Văn Dân là vào một chiều mưa lũ năm 1965: "Đang ngồi co ro trong lán, bỗng nghe tiếng nước ầm ầm, rồi một bè gỗ 12 khối đứt dây chẳng, rùng rùng trôi ra giữa dòng sông Mã, tôi gào lên: "Bè trôi rồi, cứu bè ngay", rồi cùng anh Dụng chạy ào ra bờ sông. Hai anh em bơi miết theo, nhảy bám lên bè, nhưng bè đã mất trụ chèo, không có điểm tựa để chèo lái được. Giữa cơn lũ lớn, nước to bè nặng, lại không có trụ chèo, loay hoay mãi không làm sao đưa được vào bờ. Nếu để nước cuốn xuôi xuống ghềnh Chiếng thì tan tành ngay. Lúc ấy tôi chỉ kịp nghĩ, dù mình có chết cũng phải cứu bè, vì đây là tài sản của Nhà nước, của nhân dân. Do vậy, tôi ào xuống dòng nước lũ lạnh buốt, ghì bám chặt vào đầu bè. Tôi làm trụ, còn anh Dụng lấy chèo, tỳ lên vai và cô phía bên phải của tôi, vật lộn hàng tiếng đồng hồ mới chèo được 12 khối gỗ vào bờ. Mặc dù cổ đang đau đớn tê dại, nhưng tôi vẫn giục anh Dụng quay lại đơn vị để gọi người lại cứu, còn mình tiếp tục ngâm mình dưới nước lạnh, cố không để bè bị nước cuốn đi một lần nữa. Anh Dụng lên bờ quay về, trên đường lại bị lũ ngăn mất lối. Thế là cả hai cùng chịu đối rét hai ngày đêm mới liên lạc được với đơn vị, đưa người đến cứu.

Chừng sau đó một năm, vào ngày 12-10-1966, Hà Văn Dân lại có thêm một thành tích nữa. Hôm ấy, do vận chuyển ban ngày nên đoàn bè bị máy bay địch phát hiện. Chúng đuổi theo thả bom, anh em trong đoàn vội vàng nằm rạp xuống tránh. Hà Văn Dân kể lại: "Bom bay trên đầu, rồi chúng làm tan đầu bè của tôi. Mọi người đều nhào xuống nước bơi vào, nhưng tôi không thể bỏ bè, tiếp tục đứng chèo chiếc bè của mình vào bờ, rồi ném chiếc cày xuống nước neo lại. Nhìn các mảnh bè bị bom bắn tan, xót ruột quá, tôi lại bơi ra kéo chụm chúng lại với nhau, rồi kéo vào. Lần thứ ba, tôi đang ra cứu chiếc bè cuối cùng thì ầm một cái, mắt hoa lên, tai ù đặc, người tôi bay tung lên vào giữa bụi nứa ven đường, văng xuống đất. Người ngợm đau nhừ, đất bùn đầy mặt, tôi vừa ôm tay xoa mặt thì thấy máu tuôn ra xối xả, vội chụm tay bịt lại, gượng bò ra bờ sông xem có còn thấy bè không. Thấy còn cả, tôi mới ôm mặt, nằm yên cho đỡ đau. Khi máy bay địch bỏ đi, anh em tìm ra bãi sông, thấy tôi nằm bất động tưởng đã chết. May mà tôi chỉ bị vỡ hàm, gãy cổ và mất 12 cái răng.

Sau 6 tháng nằm dưỡng thương, chỉ có thể húp cháo, người thanh niên 19 tuổi ấy trở lại đơn vị. Anh em đề nghị chuyển sang làm công việc hành chính nhẹ nhàng hơn, nhưng Hà Văn Dân nhất quyết không chịu, lại tiếp tục đi bè và có nhiều sáng kiến trong công việc.

Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, 6 năm liền là Chiến sĩ thi đua. Ngày 31-12-1973, Hà Văn Dân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn