Anh Hùng Hồ Duy Hùng
Hồ Duy Hùng sinh năm 1947, ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ba của ông là Hồ Duy Từ (Ba Từ), là một trong những đảng viên đầu tiên ở Duy Xuyên (Quảng Nam). Mẹ là Lê Thị Điệp cùng 5 anh chị em đều là những điệp báo viên tình báo của ta hoạt động trong các cơ sở của địch.
Tháng 8/1968, theo sự chỉ đạo của mạng lưới điệp báo, Hồ Duy Hùng gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Do có khả năng và kiến thức, ông được chọn đi học lái máy bay. Sau khi tốt nghiệp phi công lái chính UH-1 loại giỏi, ông được học thêm loại máy bay Gunship. Tháng 10/1970 về nước, ông được chính quyền Sài Gòn phong quân hàm Thiếu úy, phi công thuộc Phi đoàn 215, Không đoàn 62, Sư đoàn 2 đóng tại Nha Trang. Thời gian này, ông được Ban Quân báo Quân khu Sài Gòn-Gia Định phân công về Tổ điệp báo E4 với bí danh Bảy Hiền (sau này là Chín Chinh), bí số E6. Ngày 12/03/1971, Hồ Duy Hùng bị Quân cảnh VNCH bắt. Sau 5 tháng giam giữ, không khai thác được gì và thiếu chứng cứ, ngày 30/07/1971, quân đội Sài Gòn sa thải Hồ Duy Hùng. Theo Nghị định số 624/TTM/ND, ký ngày 30 tháng 7 năm 1971, do Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa, sa thải ra khỏi quân đội Thiếu úy Hồ Duy Hùng, số quân 68/601.534, thuộc phi đoàn 215 sư đoàn 2 Không quân với lý do: 1. Có nhiều thân nhân hoạt động cho Cộng sản; 2. Có tư tưởng thiên Cộng (ca ngợi chiến tích của Cộng sản, hô hào ý chí đấu tranh chống ngoại xâm theo đường hướng Cộng sản).
Sau khi bị sa thải khỏi quân đội, ông bị chuyển sang điều tra ở Tổng nha Cảnh sát với mục đích điều tra về nhân thân của ông. Ba tháng sau, ông được thả nhưng bị buộc phải cư trú ở Hội An và phải trình diện với cảnh sát. Tuy nhiên ông bỏ trốn ngay vào Sài Gòn, tìm cách bắt liên lạc với tổ chức. Bị cảnh sát truy nã, ông trốn ra Đà Lạt, liên tục thay đổi nơi cư trú, sống bất hợp pháp. Mãi đến tháng 4 năm 1973, ông mới bắt liên lạc được với tổ chức Thành đoàn và ra vùng giải phóng ở Củ Chi. Mãi đến tháng 8 thì ông mới trở về được đơn vị quân báo.
Ngay khi ông về đơn vị cũ, cơ quan quân báo đã có ý định giao cho ông nhiệm vụ lấy cắp 1 máy bay trực thăng UH-1 để gây tiếng vang và huấn luyện. Vì vậy, ngày 27 tháng 10 năm 1973, ông tìm cách trở về Sài Gòn để điều nghiên, tìm cách thực hiện kế hoạch. Lợi dụng sự lỏng lẻo của cơ quan cảnh sát, ông đã tìm cách lấy được giấy tờ hợp lệ và lập kế hoạch đánh cắp máy bay.
Trước đó, ngày 26 tháng 1 năm 1973, Bộ tư lệnh Cảnh sát Quốc gia có gửi cho Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa công văn cảnh báo thông tin Hồ Duy Hùng xuất hiện ở Đà Lạt và có khả năng bị đánh cắp máy bay do tình trạng khinh suất của các phi công trực thăng thường xuyên đậu ở cạnh hồ Xuân Hương.
Ngày 3 tháng 11 năm 1973, ông dự định lấy cắp một chiếc máy bay trực thăng UH-1B đậu tại bãi cỏ hồ Xuân Hương. Tuy nhiên ý định này bất thành vì máy bay không đủ nhiên liệu để bay ra vùng kiểm soát của Mặt trận Giải phóng.
Ngày 7 tháng 11 năm 1973, lợi dụng lúc Trung tá phi đoàn trưởng Nguyễn Ngọc Phan, Thiếu tá phi công Huỳnh Văn Thu và trung sĩ nhất xạ thủ đại liên sáu nòng M60 Trần Xuân Mẫn đi vào chợ Đà Lạt, Hồ Duy Hùng lấy cắp chiếc máy bay UH-1A số hiệu 60139, thuộc phi đoàn 215, Sư đoàn 2 Không quân, đang đậu cạnh hồ Xuân Hương, bay len lỏi trong dãy Trường Sơn để tránh hỏa lực của cả hai phía rồi bất ngờ hạ cánh xuống Dầu Tiếng (Tây Ninh) thuộc vùng giải phóng.
Còn về các sĩ quan tản thất chiếc UH-1A, sau khi sự việc xảy ra, đã ra trình diện. Trung tá Nguyễn Ngọc Phan đã nhận toàn bộ trách nhiệm về mình. Ngày 12 tháng 7 năm 1974, tòa án quân sự Nha Trang do đại tá Từ Dương làm chánh án xét xử vụ án để mất chiếc UH-1A với tội danh "tản thất quân dụng" và kết án Trung tá Nguyễn Ngọc Phan 8 tháng tù giam. Do bị tạm giam từ tháng 11 năm 1973, tính đến tháng 7 năm 1974, trung tá Phan đã thụ án xong và trở lại chức vụ cũ.
Sau khi hạ cánh tại Dầu Tiếng, chiếc máy bay được ngụy trang và bảo vệ kỹ lưỡng để tránh bị phát hiện. Nhờ đó, chiếc máy bay đã tránh bị phá hủy bởi các cuộc không kích. Sau đó, Hồ Duy Hùng được lệnh bay từ Dầu Tiếng về Lộc Ninh theo một đường bay đã được thông báo để tránh bị bắn nhầm. Tuy nhiên, một số du kích dọc tuyến bay không được phổ biến, đã bắn cho "lủng đuôi", buộc máy bay phải hạ cánh khẩn cấp xuống căn cứ Tà Thiết.
Ban đầu, chiếc máy bay được dự định dùng để ném bom dinh Độc Lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1974. Tuy nhiên, kế hoạch bị hoãn nhiều lần. Đến giữa tháng 3 năm 1974, Hồ Duy Hùng nhận được lệnh cùng một số kỹ sư tháo rời và dùng xe tải vận chuyển chiếc UH-1A ra Hà Nội. Ngày 26 tháng 4 năm 1974, xe tải chở chiếc trực thăng được tháo rời về đến sân bay Hòa Lạc. Ông được giao nhiệm vụ thuyết minh tính năng tác dụng và huấn luyện sử dụng UH-1A cho một số phi công trực thăng, trong đó có Nguyễn Xuân Trường (sau là Đại tá, trưởng đoàn bay dầu khí) và Nguyễn Đình Khoa (sau là tham mưu phó Quân chủng Không quân, Anh hùng Lực lượng vũ trang).
Cuối năm 1974, ông trở về miền Nam công tác trong đơn vị quân báo cũ. Đầu năm 1975, ông được lệnh tham gia chuẩn bị sân bay Lộc Ninh để đón phi công Nguyễn Thành Trung ném bom dinh Độc Lập trở về.
Ngày 21 tháng 5 năm 1975, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn không quân 917 (Đoàn C17 hay Đoàn Đồng Tháp), làm nhiệm vụ tiếp quản, thu hồi các máy bay, trực thăng chiến lợi phẩm, như: UH-1, CH-47, U-17 và L-19, để nhanh chóng tổ chức huấn luyện sử dụng. Các giáo viên bay UH-1 đầu tiên gồm có Hồ Duy Hùng (được công nhận quân hàm Đại úy Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam), Nguyễn Xuân Trường, Nguyễn Hữu Nhậm, Nguyễn Đình Khoa. Ngày 5 tháng 6 năm 1975, các máy bay trực thăng vũ trang UH-1 bắt đầu tham gia chiến dịch đánh vào các điểm cố thủ còn lại của quân Việt Nam Cộng hòa trên đảo Hòn Ông và đảo Hòn Bà.
Đầu tháng 1/1976, Trung đoàn Không quân 917 nhận nhiệm vụ đưa đoàn công tác của Bộ Tổng tham mưu do đồng chí Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền-Phó tổng Tham mưu trưởng dẫn đầu đi thị sát và kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu của Bộ đội Hải quân trên quần đảo Trường Sa. Đây là lần đầu tiên máy bay trực thăng thực hiện nhiệm vụ trên vùng biển thiêng liêng này. Khi đó Hồ Duy Hùng là phi công của Trung đoàn Không quân 917. Tổ bay có 3 người, phi công Lê Đình Ký-lái chính, Trung đoàn trưởng; phi công Hồ Duy Hùng-lái phụ và Lê Quang Vinh-dẫn đường kiêm phi công. Sau hành trình ba ngày hai đêm, tàu đến cách đảo Trường Sa chừng 2 hải lý. Nhiệm vụ của tổ bay là chở đoàn cán bộ cao cấp của quân đội đi thị sát và hạ cánh xuống các đảo vừa được tiếp quản là Trường Sa, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca và Song Tử Tây. Chiếc máy bay UH-1 lần lượt đưa từng đợt cán bộ đi làm nhiệm vụ. Tàu cũ, sóng khá lớn. Điều khiển chiếc máy bay cất, hạ cánh trên boong con tàu không ngừng chao lắc là một vấn đề không đơn giản. Ông Hùng nhớ lại: Khi hạ cánh xuống các đảo, điều ông thấy đầu tiên là có rất nhiều loài chim. Đảo Trường Sa lúc đó chỉ là một bãi bằng, rất nhiều chim hải âu đến ở chung với bộ đội Hải quân và đẻ rất nhiều trứng. Trong chuyến công tác ấy, có lúc ông phải bay cách vị trí tàu đậu khá xa để đến các đảo khác; có trường hợp đang bay trên cao, thấy bóng đám mây dưới biển trông như một đảo chìm, các ông phải bay quay lại để kiểm tra. Đã có lần hạ cánh trên đảo không liên lạc được, chỉ huy trên tàu đã tưởng tổ bay bị lạc đường.
Về đợt công tác này, trong cuốn “Lịch sử Trung đoàn Không quân 917” có ghi: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, máy bay của lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam đã hạ cánh xuống quần đảo Trường Sa, thêm một lần nữa khẳng định chủ quyền của Tổ quốc đối với Trường Sa và thềm lục địa phía Nam. Kết quả hoàn thành tốt nhiệm vụ của đợt công tác còn khẳng định khả năng hoạt động hiệu quả của lực lượng không quân trực thăng trong điều kiện thời tiết phức tạp trên biển”.
Đến cuối tháng 5/1976, Trung đoàn Không quân 917 lại giao nhiệm vụ cho tổ bay do Hồ Duy Hùng làm lái chính cùng đồng chí Vũ Xuân Cán lái phụ dùng trực thăng UH-1 đưa đoàn cán bộ hải quân tiếp tục đi kiểm tra, cắm cờ chủ quyền trên các đảo và bãi san hô ngầm trên vùng biển khu vực Trường Sa. Sau đó, ông cùng các phi công khác của Trung đoàn Không quân 917 còn được giao nhiệm vụ bay khẳng định chủ quyền, bay làm chủ trên vùng trời của các đảo Cù Lao Chàm, Cù Lao Xanh, Cù Lao Thu, Lý Sơn, Côn Đảo, Phú Quốc, Nam Du và nhiều đảo khác thuộc khu vực miền Trung, phía Nam của Tổ quốc.
Đầu năm 1982, ông chuyển ngành sang Công ty Du lịch Phú Thọ, quận 11, TP Hồ Chí Minh. Khu vực Đầm Sen nước lúc đó là một khu đầm lầy hoang, cây cỏ rậm rịt, tập trung nhiều tệ nạn xã hội. Vào thời gian này, việc huy động hàng triệu ngày công lao động để cải tạo khu vực này thành một công viên văn hóa là rất khó khăn. Được sự động viên, giúp đỡ của các đồng chí trong Quận ủy, Ủy ban nhân dân quận 11, ông cùng bạn bè, đồng chí trong công ty tiến hành xây dựng Công viên Đầm Sen trên diện tích 50ha, gồm 20% là mặt hồ, 60% là cây xanh và vườn hoa. Đây là một trong những khu vui chơi, giải trí hàng đầu của TP Hồ Chí Minh hiện nay.
Năm 2008, ông nghỉ hưu. Năm nay hơn 70 tuổi, ông vẫn nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội, làm Phó trưởng ban liên lạc Quân báo, Quân khu Sài Gòn-Gia Định. Ông và các đồng chí trong Ban liên lạc rất tích cực đi xác minh giúp đỡ các đồng chí đồng đội đã từng hoạt động cách mạng nhưng do thất lạc giấy tờ mà chưa được hưởng chế độ đãi ngộ của Nhà nước. Ông tâm sự: “Nhiệm vụ tình báo, điệp báo, có những đồng chí hoạt động đơn tuyến mà chỉ có người chỉ huy trực tiếp biết, tổ chức chỉ biết họ qua bí số. Đã có đồng chí trước đây được an ninh ta cài vào hàng ngũ địch, lập được chiến tích nhưng sau giải phóng bị hiểu nhầm, sống rất cơ cực, chúng tôi phải xác minh, minh oan cho đồng đội”.
(Ảnh: phi công Hồ Duy Hùng ở giữa - ảnh chụp trong 1 chuyến bay ra Trường Sa)



