ANH HÙNG HỔ PHÒM
ANH HÙNG HỔ PHÒM
Hồ Phòm, sinh năm 1917, dân tộc Bru (Khùa), quê ở xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, tham gia cách mạng năm 1955. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung úy, đồn phó đồn biên phòng Cha Lo, Công an nhân dân vũ trang Quảng Bình, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Là người con của dân tộc Khùa, trước cách mạng Hồ Phòm sống rất khổ cực, nghèo đói (cả dân tộc không có họ, sau này lấy họ Bác Hồ làm họ cho mình), đồng chí đã tham gia dân quân xã, phó chủ tịch mặt trận xã. Năm 1955 làm chiến sĩ công an tỉnh Quảng Bình, tháng 3 năm 1959 chuyển sang Công an nhân dân vũ trang và công tác liên tục ở đồn biên phòng Cha Lo.
Ở đồn biên phòng, Hồ Phòm được giao nhiệm vụ vận động quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng ở các địa bàn thuộc vùng biên giới Việt - Lào. Hoạt động ở một vùng rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt, các dân tộc thường bị kẻ địch tìm cách phá hoại, gây mâu thuẫn với nhau, đồng chí luôn luôn vững vàng, kiên định, chiến đấu dũng cảm và mưu trí, hoàn thành tốt mọi công tác được giao phó.
Ngay sau khi chuyển sang lực lượng Công an nhân dân vũ trang, Hồ Phòm làm công tác vận động quần chúng ở 2 bản Pha Xoóng và Cả Toóc. Đồng bào ở hai bản này chủ yếu là người thuộc xã Dân Hóa đến làm ăn từ khi kháng chiến chống Pháp. Vùng này bọn phỉ hoạt động rất mạnh, cơ sở của ta hầu như bị phá vỡ. Khi biết Hồ Phòm về hoạt động, chúng càng khống chế tư tưởng nhân dân, và sau 3 lần phục kích đều không bắt được Hồ Phòm, chúng treo giải thưởng giết đồng chí. Không hề nao núng, lo sợ, kiên trì bám sát quần chúng để giáo dục, tuyên truyền, đồng chí vận động nhân dân từ chỗ quen sống trong hang đá ra làm nhà và làm nương rẫy, trồng lúa và hoa màu, đời sống dân bản ngày càng nâng lên rõ rệt. Giữa lúc nhân dân đang yên ổn làm ăn thì bọn phỉ cho 2 trung đội tới cưỡng ép nhân dân di cư theo chúng. Hồ Phòm khôn khéo tổ chức, hướng dẫn dân quân và đồng bào địa phương dùng cung nỏ, giáo mác, bẫy đá chống lại kịch liệt làm cho địch bị thất bại nặng nề. Từ đó, cà hai bản đều yên ổn, nhân dân phấn khởi và tin tưởng vào cách mạng.
Năm 1965 - 1966, chiến tranh phá hoại của Mỹ gây ra ác liệt làm cho dân bỏ bản chạy khắp mọi nơi trong rừng. Có chỗ ngô, sắn trên nương đã được ăn mà không ai dám tới thu hoạch, phải chịu đói, sống lang thang khắp rừng. Thực hiện chỉ thị của trên, Hồ Phòm phụ trách 1 tổ đi tìm đồng bào. Đồng chí có sáng kiến dùng kèn, tù vả để làm tín hiệu gọi dân, nên dần dần đồng bào lạc trong rừng đá trở về đông đủ. Theo sự hướng dẫn của Hồ Phòm, đồng bào vừa sản xuất, ổn định đời sống, vừa phòng tránh máy bay địch. Sau một thời gian, đồng chí cùng tổ công tác cơ sở giúp đồng bào thuộc 6 bản tập trung lại ổn định tinh thần và hăng hái tham gia sản xuất. Bản Cà Oi là một trong 6 bản trở thành lá cờ đầu của huyện về phong trào bảo vệ trị an, sản xuất, văn hóa và xã hội.
Cuối năm 1966, địch đánh phá ác liệt bản Cha Lo, cấp trên chỉ thị phải đưa nhân dân sơ tán vào sảu nội địa. Do phong tục tập quân nhân dân không chịu đi, một số người kéo đến chất vấn đồng chí. Vì nắm vững tâm lý và tập quán của đồng bào, Hồ Phòm khéo giải thích, tuyên truyền nhân dân làm cho họ thấy được lòng yêu thưưng của Đảng đối với đồng bào và tội ác dã man của kẻ địch. Được cấp trên đồng ý, đồng chí chọn một số gia đình ở lại địa bàn xung yếu để cùng phối hợp với đơn vị bảo vệ biên giới, còn hầu hết đưa về nơi sơ tán, ổn định đời sống, tăng gia sản xuất. Khi máy bay B.52 ném bom rải thảm khu vực do đồn Cha Lo phụ trách, chủ trương của cấp trên la phải đưa dân vào trú ẩn trong núi, ăn ở dưới hầm. Vì phong tục, đồng bào chưa chịu làm theo chủ trương ấy. Trước tình hình như vậy, Hồ Phòm vận động gia đình mình và gia đình đồng chí chủ tịch xã thực hiện trước. Đồng bào thấy các gia đình ăn ở dưới hầm không ai đau ốm nên cùng làm theo. Do đó, nhiều lần khác B.52 giặc Mỹ ném bom, tính mạng và tài sản của đồng bào được bảo đảm an toàn.
Hồ Phòm xây dựng được màng lưới cang cấp tin tức rộng rãi, do đó ta kịp thời đấu tranh chống luận điệu phản động, phát hiện phần tử xấu chui vào chính quyền hoạt động phá hoại, xử lý kịp thời. Đồng chí tích cực góp phần giải quyết mâu thuẫn từ lâu đời giữa hai dân tộc Khùa và Mày, làm cho đồng bào đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau để chống kẻ thù chung. Đồng chí bồi dưỡng và giới thiệu vào Đảng được 4 người thuộc dân tộc Mày, có người sau này trờ thành cán bộ chủ chốt của xã và của huyện.
Hồ Phòm là một cán bộ người dân tộc, sớm được cách mạng giáo dục, giác ngộ, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, không sợ gian khổ hy sinh, công tác tích cực, học tập chăm chỉ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Đồng chí quý trọng đồng bào và được đồng bào các dân tộc yêu thương đùm bọc nhau như đối với người thân trong gia đình.
Đồng chí được khen thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, nhiều bằng khen, giấy khen, từ năm 1966 đến năm 1970, đồng chí là Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ Quyết thắng.
Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Hồ Phòm được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


