Anh hùng Hoàng Văn Nghiên
Đồng chí Hoàng Văn Nghiên sinh năm 1939, dân tộc Nùng, quê quán ở xã Ngũ Lão (Hòa An), xuất thân trong một gia đình nông dân, được chứng kiến những tháng năm hào hùng của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ anh dũng của dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc thắng lợi năm 1954.
Tháng 4/1962, đồng chí Hoàng Văn Nghiên tình nguyện xung phong nhập ngũ. Hoàn thành thời gian huấn luyện chiến sĩ, theo lệnh hành quân cấp tốc lên đường đến nơi tập kết làm đường trên tuyến Trường Sơn ngay trong mùa mưa, đồng chí được biên chế vào Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 98 Công binh, Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn.
Trong điều kiện làm việc khắc nghiệt, thời gian làm đường rất gấp, đồng chí tiên phong cùng anh em cải tiến công cụ lao động, tạo ra hàng trăm đà trượt đưa năng suất từ 5 m3 lên 9 m3 đất đá san gạt một người, mỗi ngày, đưa năng suất lao động tăng lên gần gấp đôi. Tám tháng liên tục không ngưng nghỉ, đồng chí có ngày công cao nhất, cùng đơn vị hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch, góp phần quan trọng vận chuyển hàng nhanh, kịp thời phục vụ các chiến dịch.
Những năm tháng hào hùng đó, bộ đội Trường Sơn đã làm nên đường Hồ Chí Minh huyền thoại dài theo đất nước. Với ý chí “Tường đồng, vách sắt”, “Máu có thể đổ, nhưng đường không thể tắc”, họ đã làm nên hệ thống đường nối liền hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường miền Nam bằng hai tuyến chiến lược chính: Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn qua các nước bạn Lào, Campuchia thông đến vùng đồng bằng Cửu Long.
Những năm 1964 - 1965 yêu cầu của chiến trường phải tăng nhanh lượng hàng hóa phục vụ chiến đấu trở thành vấn đề cấp bách, đồng chí cùng đơn vị nhận nhiệm vụ cấp tốc mở đường thủy thông tuyến trên sông Bạc và sông L trên đất bạn Campuchia. Hai con sông này chảy qua địa hình phức tạp, gây khó khăn cho việc vận chuyển hàng. Đặc biệt có hai thác lớn án ngữ dòng chảy, bè mảng đi qua không lọt, đó là thác Chà Bạc và thác Hồ Giống.
Thác Chà Bạc có một tảng đá lớn chắn ngang dòng, gây ách tắc trong việc vận chuyển hàng, đến đó phải bốc dỡ lên bờ, rồi khuân vác đến chân thác mới có thể đi tiếp, làm chậm tiến độ, tốn rất nhiều công sức. Vấn đề đặt ra là phải phá được thác, tình huống này đơn vị mới gặp lần đầu tiên, chưa có kinh nghiệm, nên rất khó khăn, có thể nguy hiểm đến tính mạng, đồng chí đã xung phong nhận nhiệm vụ.
Trước hết, là làm công việc thăm dò, tìm vị trí đặt thuốc nổ. Mùa mưa nước sông dâng cao, chảy xiết, rất khó bơi đến chân thác, địa hình nơi đó cũng không thể dùng mảng được, đồng chí đã tận dụng các mô đá nhô lên để làm điểm tựa và thận trọng tiếp cận dần, rồi buộc dây bảo hiểm lặn xuống thăm dò. Nhiều lần bị dòng xoáy nhấn chìm, anh em phải kéo lên, nghỉ một lúc đỡ mệt, đồng chí lại tiếp tục bơi, lặn. Bằng ý chí, nghị lực tuổi thanh xuân, đồng chí đã tìm ra vị trí đặt thuốc nổ để phá thác, làm vỡ tảng đá lớn cản đường thủy của ta, tạo thuận lợi cho các chuyến hàng theo dòng chảy băng băng tiến về phía tiền phương.
Thác Hồ Giống cũng có một cái thác nằm ở đoạn hẹp dòng, độ dốc lớn, nước xiết với nhiều tảng đá sắc nhọn liền kề nhau như răng cưa, đi lại rất khó khăn... Một số tiểu đội gan dạ dùng mảng chở hàng, chống sào vượt qua nhưng đều bị lật trôi. Không thể khoanh tay đứng nhìn, đồng chí tự mình lặn ngụp, bơi bám để thăm dò khám phá, nắm vững địa hình dòng chảy nhằm tìm biện pháp khắc phục. Nhiều lần đồng chí bị nước cuốn trôi, chân tay rách tướp máu nhưng không hề nản chí. Cuối cùng việc đặt phá thuốc nổ cũng hoàn thành do chính anh khoan, đặt vào từng vị trí trên thác. Bằng tinh thần bền bỉ, dũng cảm mưu trí, sáng tạo quên mình, anh đã chinh phục được dòng sông, làm thông đường thủy, tạo thuận lợi cho đơn vị đảm bảo kế hoạch vận chuyển tiếp lương, tải đạn ra chiến trường hiệu quả nhất.
Với thành tích đặc biệt xuất sắc, ngày 1/11/1967, đồng chí vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Khi đó, đồng chí là Trung đội trưởng, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 98 Công binh.
Trải qua quá trình chiến đấu, xây dựng quân đội, từ một chiến sĩ công binh trên đường Trường Sơn trở thành một cán bộ cấp cao của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, dũng cảm mưu trí, sáng tạo quên mình trong lao động, gương mẫu tiên phong, nhận khó khăn về mình, nêu một điển hình xuất sắc về ý chí ngoan cường quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đồng chí được đề bạt, nắm giữ các cương vị quan trọng, là Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng Trung đoàn 98, Tham mưu phó Trung đoàn 98 Quân khu 2, Phó Chủ nhiệm Công binh Quân đoàn 29, Chủ nhiệm lớp Trường quân chính Quân khu 1, Thượng tá - Lữ đoàn phó Lữ đoàn Công binh 575 Quân khu 1. Đồng chí nghỉ hưu theo chế độ tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Với những cống hiến hết mình cho Tổ quốc, đồng chí vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, hai Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhì, hạng Ba; ba Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Thượng tá Hoàng Văn Nghiên, một tấm gương sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại Hồ Chí Minh ngày nay.


