Anh hùng Huỳnh Thanh Mừng
Huỳnh Thanh Mừng sinh năm 1915 trong một gia đình trung nông tại tổng Định Phú, tỉnh Long Xuyên, thuộc Nam Kỳ (nay thuộc xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang). Thuở nhỏ, do gia đình khá giả, ông có điều kiện được cho ăn học.
Cuối năm 1940, quân Nhật tiến vào Đông Dương, đến giữa năm 1941, toàn bộ Nam Kỳ nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Nhật. Bấy giờ, Giáo sư Cao Đài là Trần Quang Vinh được người Nhật hậu thuẫn, chiêu mộ thanh niên dưới vỏ bọc làm công nhân đóng tàu cho hãng Nitinan của Nhật tại Cầu Rạch Ông (nay thuộc Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh), thực tế là thành lập lực lượng bán quân sự với tên gọi là Nội ứng nghĩa binh, hỗ trợ quân Nhật khi cần thiết. Ông theo lời chiêu mộ này, lên Sài Gòn gia nhập Nội ứng nghĩa binh.
Hi sự kiện ngày 9 tháng 3 năm 1945 nổ ra, ông cừng lực lượng Nội ứng nghĩa binh tham gia đảo chính Pháp cùng với quân đội Nhật tại Sài Gòn.
Xuyên suốt qua các sự kiện Cách mạng tháng 8 rồi Nam Bộ kháng chiến, ông tham gia trong lực lượng vũ trang Cao Đài tham chiến tại Sài Gòn. Khi mặt trận Sài Gòn tan vỡ trước sức tấn công của quân Pháp, ông cùng đồng đội rút về vùng Bến Cầu (Tây Ninh) để bảo toàn lực lượng.
Tháng 8 năm 1946, chính quyền thực dân Pháp cho phép Hộ pháp Phạm Công Tắc được trở về Tòa Thánh Tây Ninh, đổi lại thỏa thuận các lực lượng vũ trang Cao Đài sẽ không chống Pháp.[2] Lực lượng vũ trang Cao Đài được người Pháp trang bị và huấn luyện để hỗ trợ quân Pháp chống lại Việt Minh,[3] kiện toàn thành Quân đội Cao Đài, với Tổng hành dinh đặt tại Bến Kéo (nay thuộc thị xã Hòa Thành, Tây Ninh). Ông được phong cấp Thiếu tá, được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Vệ binh của Bộ Tổng tham mưu quân đội Cao Đài.
Trong những năm sau đó, ông thường xuyên tham gia vận động các cựu sĩ quan quân đội Cao Đài và các chức sắc thực hành Cương lĩnh Hòa bình chung sống của Hộ pháp Phạm Công Tắc, chống lại chính sách hiếu chiến của chính quyền Ngô Đình Diệm. Do những hoạt động chống "chính thể Việt Nam Cộng hòa", ông bị cảnh sát bắt giam và tra tấn, bị giam trong suốt hai năm 1958 và 1959 hết ở nhà giam Tây Ninh, khám Chí Hòa rồi quận Thủ Đức Sài Gòn. Mãn tù, ông ra núi Bà Đen tiếp tục hoạt động cho tổ chức Hòa bình chung sống.[4]



