ANH HÙNG HUỲNH THÚC BÁ
Huỳnh Thúc Bá (tức Huỳnh Ba), sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 10 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là y tá đại đội 1, tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lớn lên trong một gia đình có nhiều người tham gia cách mạng bị địch giết, bắt tù đầy, tra tấn, Huỳnh Thúc Bá sớm có lòng yêu quý độc lập, tự do của Tổ quốc, lòng căm thù giặc Mỹ sâu sắc. Sau khi hoạt động ở địa phương bị lộ, đồng chí đi bộ đội, làm công tác cứu thương và từ tháng 10 năm 1965 làm y tá đại đội.
Từ năm 1962 đến năm 1966, đồng chí đả trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu 65 trận, là một y tá rất tận tụy, hết lòng cứu chữa thương binh, quên mình vì đồng đội, vì nhân dân. Ngoài ra Huỳnh Thúc Bá còn là một chiến sĩ dũng cảm, tự tay diệt 55 tên địch, bắt sống 5 tên, thu nhiều vũ khí. Trong nhiều trận đánh gay go, ác liệt, đồng chí đều xông xáo, lên xuống nhiều lần dưới hỏa lực địch, luôn luôn có mặt ở nơi gay go ác liệt để kịp thời động viên và cấp cứu thương binh. Huỳnh Thúc Bá đâ cấp cứu tại chỗ 80 anh em và cùng đơn vị đưa về nơi an toàn 120 thương binh, nhiều lần dũng cảm chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ, giữa bom đạn đã lấy thân mình che chở cho thương binh.
Trong trận cầu Tam Kỳ (tháng 1 năm 1966), giặc chỉ cách ta 35 mét, chúng bắn ra dữ dội, Huỳnh Thúc Bá vẫn bình tĩnh lấy thân mình che đỡ và băng bó cho thương binh, đem ra an toàn rồi tiếp tục cùng đơn vị chiến đấu.
Trận tiến công đồn Chổi Sũng (tháng 2 năm 1966), mặc cho đạn địch đang bắn tới tấp, đồng chí vẫn bám sát đơn vị, chạy lên chạy xuống kịp thời cứu chữa, băng bó 28 thương binh và đưa ra an toàn, mặc dù bản thân củng bị thương hai lần.
Trận Núi Giàng (tháng 3 năm 1966), khi cán bộ chỉ huy bị thương vong, máy bay và pháo địch bắn phá dữ dội chuẩn bị cho bộ binh địch phản xung phong Huỳnh Thúc Bá tự động tổ chức và chỉ huy 12 đồng chí còn lại vừa chiến đấu ngăn chặn địch, vừa yểm hộ cho nhau đưa thương binh, tử sĩ lui về phía sau. Khi ra khỏi trận địa, kiểm tra biết còn sót 2 tử sĩ, Huỳnh Thúc Bá lại cùng đồng chí cứu thương quay trở lại tìm bằng được để đưa về chôn cất chu đáo.
Sau trận Kỳ Sanh, có 7 thương binh không kịp đưa đi, phải đem giấu trong rừng, phi pháo địch đánh liên tục, đồng chí ở lại tìm cách nuôi dưỡng anh em trong 5 ngày rồi tìm đường dìu cả 7 thương binh về bệnh xá an toàn.
Huỳnh Thúc Bá còn khéo phát động và tổ chức anh em đẩy mạnh phong trào phòng bệnh, chú ý huấn luyện cho các cứu thương thuần thục động tác chuyên môn và có kế hoạch chu đáo trước mỗi trận đánh để làm tốt công tác cứu chữa thương binh. Đồng chí thường ở lại trận địa đến phút cuối củng để kiểm tra, không trận nào bỏ sót thương binh, tử sĩ.
Trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, Huỳnh Thúc Bá chịu khó học hỏi nhân dân, áp dụng các phương pháp chữa bệnh cổ truyền như nấu cám làm thuốc chữa ghẻ, dùng lá vông chế thuốc an thần, tìm nhiều lá, rễ cây khác thay thế thuốc đỏ và làm thuốc chữa ho, kiết lỵ...
Đồng chí còn có kế hoạch cụ thể giúp đỡ nhân dân các vùng đóng quân về công tác vệ sinh, phòng bệnh, băng bó cho hàng chục người bị thương vì bom, đạn địch. Trận lụt lơn năm 1964 ở Bình Giang, đồng chí một mình bơi thuyền ra giữa dòng nước lũ vớt được 29 đồng bào, cấp cứu 41 người khác khỏi nạn lụt.
Đồng chí Huỳnh Thúc Bá không sợ gian nguy, tận tình bao vệ tính mạng của đồng đội trong chiến đấu, chăm lo nghiên cứu, cải tiến, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và xây dựng của đơn vị, là ngọn cờ đầu thi đua của ngành quân y Quân khu 5.
Huỳnh Thúc Bá đã đưực tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua liền 2 năm 1965-1966 và là Dũng sĩ Quyết thắng cấp ưu tú.
Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Thúc Bá được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



