Anh hùng La Văn Cầu (2)
Anh hùng La Văn Cầu: Nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay, nén đau để tiếp tục chiến đấu
Năm 1948, khi tròn tuổi 16, ông Cầu đứng trong hàng ngũ của Đại đội 73 thuộc tỉnh Cao Bằng. Tới năm 1949, ông là chiến sĩ chiến đấu thuộc Trung đoàn 74 thuộc Sư đoàn 316 (Quân khu 2). Trận đánh Đông Khê là trận đánh mở màn nằm trong Chiến dịch Biên giới Thu Đông bởi Đông Khê có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Giữ được Đông Khê, ta nắm chắc được thắng lợi trong tay. Vì là trận đấu quan trọng nên Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp ra mặt trận chỉ huy: “Chúng ta phải đánh cho kỳ thắng, không được thua”.
Giai đoạn 1946 – 1949: Là thời gian phòng ngự, chuẩn bị mọi thứ từ nhân lực đến vũ khí, thuốc men. Đến năm 1950, quân ta quyết định mở cuộc Tổng tiến công hùng tráng khiến giặc phải khiếp sợ. Trong trận đánh lớn, đồng chí La Văn Cầu thuộc tiểu đội gồm 5 người, được giao nhiệm vụ đánh vào lỗ châu mai, lô cốt của địch.
Đạn bắn như mưa, khói bay mù mịt, cái chết cận kề nhưng không “chùn vai mỏi bước”. Quân ta quyết xông lên tiêu diệt giặc, sẵn sàng hy sinh máu xương để đổi lại nền độc lập, tư do của Tổ quốc. Và cứ thế, lần lượt 3 đồng chí chiến đấu cùng ông La Văn Cầu “ngã xuống”. Gạt đi giọt nước mắt, ông Cầu càng quyết tâm ôm bộc phá tới gần địch, diệt giặc để trả thù cho đồng đội.
Với dáng người nhỏ bé, vỏn vẹn 50kg, ông Cầu ôm quả bộc phá nặng 12kg xông lên chiến đấu, mở đường cho đồng đội tiến lên. Trong khi lao lên nhằm tiêu diệt địch, ông bị một viên đạn bắn trúng. Đạn khiến ông bị bất tỉnh, mê man. “Khi ấy, tôi tưởng tôi sẽ chết, toàn thân nhũn lại. Tôi ngã xuống, mê man, không biết gì. Từng kỷ niệm thuở thiếu thời cứ hiện lên như một thước phim quay chậm. Ở đó, tôi được gặp lại cha mẹ, bạn bè, hàng xóm...” – Ông La Văn Cầu bùi ngùi kể lại.
Đến khi ông Cầu tỉnh dậy, đất đá kín đầy miệng và mắt. Viên đạn xoẹt qua má khiến một bên má mất đi, sưng rất to do nhiễm trùng và cánh tay phải bị thương nặng. Sờ lên đầu và ngực thấy không bị sao, ông vội vàng lần tìm trái bộc phá để tiếp tục lao lên nhưng chỉ cánh tay trái cử động được, còn cánh tay phải khi di chuyển lủng lẳng va vào cành cây rất đau. Lúc ấy, thấy vô cùng vướng víu, ông Cầu đã có một quyết định dũng cảm: Nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay phải bị thương.
Khi đề xuất ý kiến đó, đồng chí Nông Văn Phiêu – Đại đội trưởng ngăn cản: “Không được đâu cậu ơi! Cậu về đi cho người khác lên thay”. Tuy nhiên, ông Cầu nhất định không chịu nghe và nài nỉ đồng đội thực hiện. Nông Văn Phiêu biết không cản nổi liền đi mài thật sắc lưỡi lê của Nhật rồi chặt phăng cánh tay phải lủng liểng của ông Cầu, sau đó băng bó lại qua loa, sau đó ông Cầu tiếp tục chiến đấu, quyết hoàn thành nhiệm vụ được giao của trận chiến.
Khi hồi tưởng lại những ký ức lịch sử ấy, ông vẫn không tin nổi đó là những lời cuối cùng mà người đồng đội nhắn nhủ với mình. Ông Nông Văn Phiêu cũng hy sinh trong trận đánh ấy. Ông Cầu là người duy nhất sống sót trong tiểu đội 5 người. Ông xúc động nói trong nước mắt: “Qủa thật đạn tránh tôi chứ tôi không tránh đạn. Suốt ba tháng sau khi chặt lìa cánh tay, đêm nào tôi cũng nằm mơ về trận đánh ấy, nhớ về giây phút đớn đau cùng những lời căn dặn xót xa của đồng đội. Cánh tay ấy – tôi dành để lại một phần xương thịt, một phần cơ thể cho trận đánh Đông Khê”.
Sau trận đánh, anh hùng La Văn Cầu vượt núi băng rừng về trạm xá. Vết thương ở tay bị hoại tử nặng, thâm tím lại. Các bác sĩ đã phải chặt gần đến vai mới giữ lại được mạng sống cho La Văn Cầu. Xoa xoa mỏm tay cụt của mình, ông nở nụ cười hiền hậu. Chúng tôi – thế hệ sau càng thêm hiểu và trân trọng hơn những đóng góp lớn lao, vĩ đại của cha ông đi trước, hiểu được những mất mát to lớn phải đánh đổi để gìn giữ độc lập Tổ quốc.


