ANH HÙNG LA VĂN CẦU: TẤM GƯƠNG THÉP VÀ HÀNH ĐỘNG DŨNG CẢM LÀM THAY ĐỔI CỤC DIỆN TRẬN ĐÁNH
ANH HÙNG LA VĂN CẦU: TẤM GƯƠNG THÉP VÀ HÀNH ĐỘNG DŨNG CẢM LÀM THAY ĐỔI CỤC DIỆN TRẬN ĐÁNH
Trong trang sử vàng kháng chiến chống thực dân Pháp của Quân đội Nhân dân Việt Nam, hành động nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay gãy nát để tiếp tục ôm bộc phá phá lô cốt địch của Anh hùng La Văn Cầu đã trở thành một tượng đài bất tử. Đó không chỉ là biểu tượng vô song về ý chí sắt đá, mà còn là lời khẳng định tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" của thế hệ thanh niên Việt Nam.
Người con ưu tú của núi rừng Cao Bằng
Anh hùng La Văn Cầu sinh năm 1932, là người dân tộc Tày, quê tại xã Phong Nậm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất cội nguồn cách mạng, từ nhỏ ông đã chứng kiến cảnh quê hương bị giặc Pháp tàn phá.
Năm 1948, khi mới 16 tuổi – chưa đủ tuổi nhập ngũ theo quy định, người thanh niên trẻ La Văn Cầu đã chủ động khai tăng tuổi để được đứng vào hàng ngũ quân đội địa phương. Sau quá trình rèn luyện kiên cường, ông trở thành chiến sĩ bộ binh thuộc Đại đoàn 312. Trong đơn vị, ông nổi tiếng là một người chiến sĩ kỷ luật, khiêm tốn, giàu lòng nhân ái và luôn xung phong nhận những nhiệm vụ nguy hiểm nhất.
Khúc ca dũng cảm tại trận Đông Khê năm 1950
Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950 là chiến dịch tiến công lớn đầu tiên của Quân đội ta. Trận đánh chiếm cứ điểm Đông Khê (Cao Bằng) tháng 9/1950 được chọn làm trận mở màn có ý nghĩa then chốt.
Trong trận chiến sinh tử này, La Văn Cầu đảm nhiệm vị trí Tổ trưởng tổ bộc phá với nhiệm vụ vô cùng gian khổ: tiếp cận và tiêu diệt lô cốt số 1 – điểm hỏa lực cực kỳ nguy hiểm của địch đang khống chế toàn bộ hướng tiến công của quân ta.
Rạng sáng ngày 17/9/1950, trận đánh diễn ra ác liệt. Hỏa lực từ lô cốt địch xả ra như mưa, nhiều đồng đội trong tổ bộc phá lần lượt thương vong. Trong lúc ôm quả bộc phá nặng 12kg nhích từng mớm đất tiến lên, La Văn Cầu bị trúng đạn. Một viên đạn của địch bắn nát cánh tay phải và làm ông bị thương nặng ở hông.
Thấy cánh tay bị gãy đứt lủng lẳng cản trở việc di chuyển và ôm bộc phá, La Văn Cầu không hề nao núng. Ông hiểu rằng nếu không phá được lô cốt này, xương máu của đồng đội sẽ tiếp tục đổ xuống. Ông quay sang người đồng đội Nông Văn Pheo và kiên quyết yêu cầu: "Anh dùng dao chặt đứt cánh tay này cho tôi để khỏi vướng!".
Trước sự quả quyết và ánh mắt kiên định của ông, người đồng đội nghiến răng dùng dao chặt đứt hẳn cánh tay bị thương. Nén chịu cơn đau xé thịt, La Văn Cầu dồn toàn bộ sức lực còn lại, dùng cánh tay trái ôm chặt khối bộc phá 12kg, trườn lên áp sát mục tiêu. Ông nhét quả bộc phá vào lỗ châu mai, giật nụ xòe rồi lùi lại trước khi ngất đi vì mất máu.
Một tiếng nổ rền trời vang lên, tiêu diệt hoàn toàn lô cốt đầu cầu của địch, mở đường cho đại quân ta xông lên chiếm lĩnh cứ điểm Đông Khê, góp phần làm nên thắng lợi lịch sử của Chiến dịch Biên giới 1950.
Tượng đài sống trong lòng nhân dân
Sau chiến công lẫy lừng, năm 1952, tại Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, La Văn Cầu vinh dự trở thành 1 trong 7 cá nhân đầu tiên được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân khi ông mới 20 tuổi.
Sự kiên cường của ông đã trở thành nguồn cảm hứng lớn lao, được đưa vào sách giáo khoa để giáo dục nhiều thế hệ học sinh Việt Nam về lòng yêu nước và ý chí vượt qua mọi nghịch cảnh. Tên của ông cũng trân trọng được đặt cho nhiều tuyến đường, trường học tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Cao Bằng... ngay khi ông còn sống – một đặc xá vô cùng hiếm hoi trong lịch sử.
Sau chiến tranh, Đại tá La Văn Cầu tiếp tục cống hiến cho quân đội, công tác tại Tổng cục Chính trị và Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu. Ông sống một cuộc đời khiêm nhường, bình dị giữa lòng Hà Nội, luôn tích cực tham gia các hoạt động Mặt trận Tổ quốc và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ.
Hành động dũng cảm năm 18 tuổi của Anh hùng La Văn Cầu không chỉ dừng lại ở một chiến công quân sự, mà đã trở thành biểu tượng bất tử về tinh thần kiên cường, dũng cảm của con người Việt Nam – một bài học vô giá về sự lăn xả và hy sinh vì sự nghiệp chung.



