Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng La Văn Cầu trở về thời bình thành “chiến sĩ bảo vệ môi trường”

Tây Ninh01/07/2026Đoàn phường An Tịnh (Đoàn phường An Tịnh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân La Văn Cầu đã trở thành huyền thoại bởi tinh thần dũng cảm trong chiến đấu. Trở về với cuộc sống đời thường ở độ tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông vẫn phát huy phẩm chất Bộ đội cụ Hồ, là tấm gương sáng cho nhiều người học tập.

Huyền thoại “vang dội” một thờiChúng tôi tìm về nhà Đại tá, trong căn nhà nhỏ nằm trên phố Tây Sơn, quận Đống Đa, TP.Hà Nội, ông xuất hiện trong bộ quân phục giản dị, với nụ cười ấm áp, thân thiện. Dù đã bước vào cái tuổi 88 nhưng trong ông vẫn toát lên sự nhanh nhẹn, chất phát và tự tin của anh Bộ đội cụ Hồ năm nào.

Bên chén trà nóng, Đại tá La Văn Cầu nhớ lại một thời đã qua mà đối với ông đó là linh hồn của thanh xuân, là những ký ức tươi đẹp nhất của tuổi trẻ. Ông sinh năm 1931, ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, người dân tộc Tày. Chứng kiến cảnh đất nước đau thương dưới sự tàn bạo của quân xâm lược, cậu bé La Văn Cầu sớm nuôi ý chí được cầm súng giết giặc giải phóng đất nước. Với niềm quyết tâm ấy, người thanh niên La Văn Cầu đã khai tăng tuổi từ 16 lên 18 để được đi bộ đội. “Trước khi đi bộ đội, gia đình tôi cũng tỏ ra lo lắng vì tôi là con một. Tôi đã nói với mẹ rằng, nếu con hy sinh, đồng đội của con sẽ là con của mẹ. Đồng đội của con sẽ yêu thương mẹ như chính tình yêu của con dành cho mẹ. Sau này mẹ không chỉ có con mà có cả đồng đội của con bên cạnh mẹ” Đại tá La Văn Cầu nhớ lại.

Vào năm 1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng gian khổ, thiếu thốn. Nhưng niềm vui, ý chí đã giúp cho chàng trai trẻ La Văn Cầu vượt qua khó khăn, vươn lên rèn luyện thành một chiến sĩ gương mẫu, giàu lòng nhân ái, được đồng đội rất quý mến.

Bồi hồi xúc động, Đại tá La Văn Cầu đã kể về trận đánh đồn Đông Khê 2 năm 1950, đây là trận chiến đầy khốc liệt và bi tráng. Trong trận chiến này, những người đồng đội của ông đã lần lượt ngã xuống và ông chính là người cuối cùng may mắn sống sót, khi chỉ còn một cánh tay lành lặn.

Khi được hỏi về cuộc chiến đấu khốc liệt năm đó, ông chậm rãi kể: "Tổ chiến đấu có 5 người do tôi làm Tổ trưởng. Lần đầu tiên chúng tôi đánh bộc phá - đơn vị bộc phá đầu tiên. Bộc phá có ít nên tôi có sáng kiến lấy mìn của địch để phá hàng rào. Lúc đó, địch bắn xuống như mưa, nhưng ai cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ nên dù có bị thương cũng không dám nói ra vì sợ mọi người nhụt chí.

Đến khi không còn trụ nổi nữa họ mới nói: "Chúng tôi bị thương nặng không làm được nhiệm vụ nữa. Các anh cố gắng làm xong nhiệm vụ và trả thù cho chúng tôi. "Khi cách lô-cốt địch khoảng 15 thước, hai người nữa lại bị địch bắn trúng và hy sinh. Ôm hôn vĩnh biệt các anh, lại thấy căm thù giặc hơn, tôi quyết phải trả thù cho các anh và làm cho xong nhiệm vụ.

Vào khoảng 10h đêm 17/9/1950, tôi được giao nhiệm vụ dùng bộc phá đánh vào một lô-cốt lớn của địch tại Ðông Khê, mở đường cho đồng đội tiến lên. Trong lúc đang chuẩn bị làm nhiệm vụ thì tôi bị hai viên đạn của địch bắn trúng. Một viên trúng vào má phải và viên kia trúng tay phải, khiến tôi ngã xuống, ngất lịm. Lúc tỉnh lại, tôi đưa tay trái sờ lên đầu, lên ngực, thấy không sao, tôi mừng quá, định vọt tiến lên thì thấy chỉ còn tay trái cử động được, cánh tay phải không còn cảm giác gì. Trong đêm tối, tôi biết cánh tay phải của mình đã bị thương, tôi vẫn cố tìm quả bộc phá, rồi dùng tay trái ôm chặt nó vào ngực, trườn lên phía trước”.

Kể đến đây, mắt ông nhòe đi, giọng trầm hẳn xuống. Phải mất một lúc, câu chuyện giữa chúng tôi và ông mới có thể tiếp tục: “Lúc này, cánh tay phải bị thương cứ lủng lẳng, vướng vào cột dây thép đau hơn lúc trúng đạn. Khi đó, tôi chợt nghĩ đằng nào cũng bị thương rồi, thà chặt luôn tay đi cho đỡ vướng rồi tiếp tục dùng tay trái ôm bộc phá áp sát lô- cốt địch, giật liền cả hai nụ xòe và chạy về phía sau. Sau tiếng nổ lớn, tôi lại ngất đi. Trong lúc ấy, các đồng chí khác đã thay tôi tiếp tục ôm bộc phá lao lên diệt các lô-cốt khác của địch. Ðường đã được mở, bộ đội ta xông lên tiến công...”.

Chiến thắng Ðông Khê đã mở màn cho Chiến dịch Biên giới, làm thay đổi cục diện chiến trường, khiến quân Pháp thất bại lớn cả về quân sự và chính trị, bị đẩy lùi vào thế phòng ngự bị động.

“Trận ấy đội tôi có hai người hy sinh: Anh Lý Văn Mưu hy sinh khi giật bộc phá, Tiểu đội Trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai che đạn cho đồng đội. Tôi là người may mắn nhất...” - ông vừa xoa xoa mỏm tay cụt vừa kể lại. Kết thúc trận đánh, nhường cáng cứu thương cho các đồng đội bằng câu khẳng định: “Tôi còn đủ hai chân”. Sau đó Anh hùng La Văn Cầu đã một mình băng rừng, vượt núi đá tai mèo về trạm xá. Lúc đến nơi, ông lăn ra bất tỉnh. Cánh tay bị nhiễm trùng tím đen, hoại tử. Bị trúng đạn và chặt ở cổ tay nhưng các bác sĩ đã phải cắt đến gần vai mới giữ được mạng sống cho La Văn Cầu.`

Với những thành tích đóng góp trong sự nghiệp chiến đấu của mình, vào ngày 19/5/1952 ông vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, khi đang là Tiểu đội Phó thuộc Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Được phong hàm Đại tá từ năm 1985, ông đã được Nhà nước tặng Huân chương quân công hạng Nhì, hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Ngoài ra, ông cũng từng là Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn