Anh hùng Lao động

Anh hùng Lao động, Tiến sĩ Thái Phụng Nê

Đắk Lắk17/08/2026Xã Quan Thành (Đoàn xã Quan Thành)9 lượt xem0 lượt chia sẻ
Anh hùng Lao động, Tiến sĩ Thái Phụng Nê

Từ chàng trai Phú Yên đến giảng đường Moskva

Thái Phụng Nê sinh ngày 24-5-1936 tại Phú Yên. Năm 1954, khi vừa 18 tuổi, ông theo dòng người tập kết ra miền Bắc. Một năm sau, ông được cử sang Liên Xô học ngành thủy công tại Đại học Xây dựng Moskva. Sau khi tốt nghiệp, ông tiếp tục nghiên cứu và bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ vào năm 1964.

Trở về nước giữa lúc miền Bắc đang bước vào thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất cho một nền kinh tế mới, người kỹ sư trẻ được phân công công tác trong lĩnh vực khai thác và trị thủy.

Nhưng bước ngoặt thực sự trong cuộc đời ông đến khi ông được điều động tham gia xây dựng Thủy điện Thác Bà.

Đó là công trình thủy điện lớn đầu tiên của miền Bắc, đồng thời cũng là nơi một thế hệ kỹ sư Việt Nam bắt đầu tích lũy kinh nghiệm thực tế về xây dựng những công trình thủy điện quy mô lớn. Thái Phụng Nê đã có 7 năm gắn bó với công trình này.

“Nó đánh thì ta chữa”

Thủy điện Thác Bà được xây dựng trong những năm chiến tranh chống Mỹ. Công trường vừa thi công vừa phải đối mặt với bom đạn.

Những đợt đánh phá của máy bay Mỹ từng gây thiệt hại nặng cho công trình. Có lần bom đánh xuống khiến 37 cán bộ, công nhân hy sinh. Nhưng sau mỗi lần bị đánh phá, những người trên công trường lại tìm cách khôi phục để nhà máy tiếp tục hoạt động.

Thái Phụng Nê từng nói về tinh thần của những người làm thủy điện khi ấy bằng một câu rất giản dị: “Nó đánh thì ta chữa.”

Đằng sau câu nói ngắn gọn ấy là cả một thế hệ kỹ sư, công nhân vừa xây dựng đất nước vừa sống giữa chiến tranh.

Tháng 10-1971, tổ máy số 1 của Thác Bà phát điện; đến năm 1972, cả ba tổ máy lần lượt đi vào vận hành, đạt tổng công suất 108 MW. Trong thời kỳ chiến tranh và những năm sau đó, Thác Bà từng chiếm phần lớn sản lượng của hệ thống điện miền Bắc.

Những năm tháng ở đại công trường sông Đà

Sau Thác Bà, Thái Phụng Nê được điều động chuẩn bị cho một công trình có quy mô lớn hơn rất nhiều: Thủy điện Hòa Bình.

Khi ông lên Hòa Bình, nơi đây vẫn chủ yếu là rừng núi và địa hình hiểm trở. Trong nhiều năm, ông cùng đồng nghiệp khảo sát địa chất, địa hình, thủy văn, nghiên cứu lòng sông Đà và tìm phương án xây dựng công trình vừa phát điện vừa có khả năng chống lũ.

Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng đối với ngành thủy điện Việt Nam.

Ở Thác Bà, Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào thiết kế và chuyên gia Liên Xô. Nhưng khi đến Hòa Bình, đội ngũ kỹ sư Việt Nam đã bắt đầu tham gia sâu hơn vào thiết kế thi công, từ những chi tiết kỹ thuật đến biện pháp và tổ chức thi công.

Đó chính là bước chuyển từ học hỏi sang từng bước làm chủ.

Năm 1983, Thái Phụng Nê khi ấy là Trưởng ban Quản lý dự án Thủy điện Hòa Bình đã trực tiếp chứng kiến một trong những thời khắc căng thẳng nhất: lần đầu tiên ngăn dòng sông Đà.

Dòng nước mạnh liên tục cuốn những khối bê tông nặng hàng chục tấn xuống hạ lưu. Phải đến khi các khối bê tông được liên kết thành từng cụm lớn, dòng sông mới dần được khống chế.

Công trình Hòa Bình sau đó trở thành một trong những biểu tượng lớn của ngành điện Việt Nam thế kỷ XX. Khi hoàn thành toàn bộ 8 tổ máy, nhà máy đạt công suất 1.920 MW.

Những đóng góp của Thái Phụng Nê tại công trình này góp phần giúp ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Từ Hòa Bình đến giấc mơ tự chủ

Sau Hòa Bình, con đường của Thái Phụng Nê tiếp tục gắn với nhiều công trình năng lượng lớn như Yaly, Thác Mơ, Hàm Thuận - Đa Mi.

Nhưng điều đáng chú ý hơn cả là quá trình năng lực của người Việt ngày càng được nâng lên.

Nếu ở Hòa Bình, Việt Nam đã bắt đầu tự đảm nhận nhiều phần việc kỹ thuật thì đến Thủy điện Sơn La, đội ngũ trong nước đã có thể tiến xa hơn: tự khảo sát, thiết kế, tổ chức xây dựng và từng bước làm chủ việc chế tạo, lắp đặt thiết bị.

Năm 2001, dù đã 65 tuổi, Thái Phụng Nê được cử làm Phái viên của Thủ tướng Chính phủ, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Thủy điện Sơn La - Lai Châu. Ông tiếp tục dành hơn một thập niên cho công trình này.

Kỳ tích Sơn La

Thủy điện Sơn La là một trong những công trình năng lượng lớn nhất Việt Nam.

Trong quá trình triển khai, có nhiều tranh luận về phương án xây dựng, đặc biệt giữa Sơn La cao, Sơn La thấp và Sơn La nhỏ. Cuối cùng, Quốc hội lựa chọn phương án Sơn La thấp, cân bằng giữa mục tiêu phát điện, chống lũ, an toàn hạ du và yêu cầu di dân tái định cư.

Một trong những dấu ấn quan trọng của Thái Phụng Nê là đề xuất cách thức tổ chức thực hiện để rút ngắn tiến độ.

Thay vì chờ hoàn tất toàn bộ các khâu rồi mới thi công, những hạng mục đủ điều kiện được triển khai trước; thiết kế và thi công được tổ chức linh hoạt hơn. Nhờ cơ chế đặc thù và cách tổ chức này, Thủy điện Sơn La hoàn thành sớm hơn kế hoạch 3 năm, mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho đất nước.

Nhưng với Thái Phụng Nê, thành công của Sơn La không chỉ nằm ở việc công trình hoàn thành sớm.

Điều ông coi trọng hơn là sau hàng chục năm học hỏi, Việt Nam đã từng bước tự lực về công nghệ, kỹ thuật và năng lực tổ chức những dự án năng lượng quy mô lớn.

Người từ chối danh hiệu Anh hùng lần thứ hai

Sau thành công của Sơn La, Thái Phụng Nê được đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động lần thứ hai.

Ông từ chối.

Lý do ông đưa ra rất giản dị: thành công của một công trình lớn không thể là công lao của một cá nhân. Có hàng nghìn kỹ sư, công nhân, cán bộ quản lý và người dân cùng góp sức.

Thay vì nhận danh hiệu lần thứ hai, ông được trao Huân chương Lao động hạng Nhất lần thứ hai.

Sự lựa chọn ấy phần nào thể hiện quan niệm của ông về công việc: thành quả thuộc về tập thể, còn người làm kỹ thuật phải đặt nhiệm vụ lên trên danh lợi cá nhân.

Từ thời kỳ thiếu điện đến một nền năng lượng tự chủ

Nhìn lại chặng đường hơn nửa thế kỷ, những công trình gắn với Thái Phụng Nê cũng phản ánh quá trình phát triển của ngành năng lượng Việt Nam.

Từ Thác Bà, nơi Việt Nam bắt đầu tích lũy kinh nghiệm xây dựng thủy điện lớn, đến Hòa Bình, Yaly và Sơn La, trình độ khảo sát, thiết kế, thi công và vận hành của đội ngũ trong nước ngày càng được nâng lên.

Ngày nay, ông cho rằng thành quả đáng tự hào nhất không chỉ là có nhiều nhà máy điện hơn, mà là Việt Nam đã từng bước xây dựng được năng lực nội sinh trong lĩnh vực năng lượng.

image.png

Ông Thái Phụng Nê (thứ 3 từ trái) cùng Tổng chuyên viên Bogachenko (thứ 4) và Ban lãnh đạo công trình thủy điện Hòa Bình sau buổi làm việc, những năm 80 - Ảnh: Tư liệu

Tư duy mà ông nhấn mạnh xuyên suốt là “điện phải đi trước một bước”. Bởi nếu chờ đến khi thiếu điện mới xây dựng nguồn điện thì nền kinh tế sẽ luôn rơi vào thế bị động.

Ông cũng đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc: “Cái gì trong nước làm được thì kiên quyết làm.” Theo ông, làm chủ công nghệ không chỉ giúp giảm phụ thuộc bên ngoài mà còn tạo nền tảng cho sự trưởng thành của cả nền công nghiệp.

Một đời nhìn về phía những dòng sông

Từ một chàng trai Phú Yên 18 tuổi tập kết ra Bắc, Thái Phụng Nê đã trở thành kỹ sư thủy công, nhà quản lý, Bộ trưởng Bộ Năng lượng và một trong những chuyên gia có ảnh hưởng lớn trong quá trình phát triển ngành điện Việt Nam.

Ông từng giữ nhiều trọng trách: Ủy viên Trung ương Đảng khóa VII, VIII; Đại biểu Quốc hội khóa X; Bộ trưởng Bộ Năng lượng; Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Điện lực Việt Nam; Thứ trưởng Bộ Công nghiệp; Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên và Phái viên của Thủ tướng Chính phủ theo dõi Dự án Thủy điện Sơn La - Lai Châu.

Năm 2014, ông được trao Huân chương Hồ Chí Minh, ghi nhận những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước.

Nhưng có lẽ, di sản lớn nhất của Thái Phụng Nê không nằm ở những chức vụ ông từng đảm nhiệm hay những phần thưởng ông nhận được.

Đó là những công trình vẫn đang đứng trên những dòng sông.

Là Thác Bà, nơi thế hệ đầu tiên học cách xây dựng thủy điện.

Là Hòa Bình, nơi năng lực của kỹ sư Việt Nam được nâng lên một bước dài.

Là Yaly, nơi sự tự chủ tiếp tục được mở rộng.

Và là Sơn La, nơi người Việt đã chứng minh rằng mình có thể tự khảo sát, thiết kế, tổ chức xây dựng và hoàn thành một công trình thủy điện khổng lồ với tiến độ vượt xa dự kiến.

Hơn nửa thế kỷ làm việc với những dòng sông, Thái Phụng Nê đã góp phần biến sức nước thành nguồn năng lượng, và quan trọng hơn, biến những kinh nghiệm học được từ bên ngoài thành năng lực của chính người Việt. Đó có lẽ là dấu ấn lớn nhất của một đời kỹ sư dành trọn cho đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn