Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa: Nhà khoa học huyền thoại của cách mạng Việt Nam

Trong dòng chảy kiêu hãnh của lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ 20, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ không chỉ ghi danh những vị tướng tài ba trên chiến trường, những chiến sĩ dũng cảm nơi đầu sóng ngọn gió, mà còn vinh danh những người anh hùng thầm lặng trên mặt trận lao động, sản xuất và sáng tạo khoa học. Trong số những huyền thoại ấy, Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nổi lên như một biểu tượng kiệt xuất cho trí tuệ, lòng yêu nước và tinh thần cống hiến không ngừng nghỉ.
Từ một kỹ sư tài năng có tương lai tươi sáng và cuộc sống nhung lụa tại Pháp, ông đã nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, từ bỏ tất cả để trở về rừng núi chiến khu Việt Bắc, đặt nền móng cho ngành Khoa học Kỹ thuật Quân sự Việt Nam. Những vũ khí mang đậm dấu ấn sáng tạo của ông như súng Bazooka, súng không giật SKZ, bom bay đã trở thành nỗi kinh hoàng của quân phiệt, thực dân, góp phần làm nên những chiến công lừng lẫy toàn cầu.
Từ người thanh niên Bến Tre đến tấm bằng kỹ sư xuất sắc tại Paris
Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu truyền thống hiếu học. Cha ông là cụ Phạm Văn Mùi, một nhà giáo tiểu học giàu lòng nhân ái nhưng mất sớm khi Quang Lễ mới tròn 6 tuổi. Mẹ ông và chị gái đã phải làm lụng vất vả, chắt chiu từng đồng tiền bán dừa, bán lúa để nuôi ông ăn học.
Ngay từ khi còn nhỏ, Phạm Quang Lễ đã bộc lộ trí thông minh thiên bẩm và tinh thần tự giác cao độ. Lời dặn của người cha trước khi nhắm mắt về việc cố gắng học hành đến nơi đến chốn để sau này giúp đời, giúp nước đã trở thành kim chỉ nam theo ông suốt cuộc đời. Học giỏi xuất sắc tại Trường Trung học Mỹ Tho rồi Trung học Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, ông luôn đứng đầu lớp và nhận được học bổng toàn phần.
Năm 1935, Phạm Quang Lễ sang Pháp du học. Tại kinh đô ánh sáng Paris, thay vì tận hưởng cuộc sống phồn hoa hay chạy theo những ngành học hái ra tiền thời bấy giờ, ông chọn dấn thân vào những ngành kỹ thuật gian khổ nhất: Kỹ sư Cầu đường, Kỹ sư Điện, Học viện Hàng không và Đại học Khoa học Sorbonne.
Đặc biệt, trong lòng người thanh niên yêu nước luôn nung nấu một ý định táo bạo: muốn đánh đuổi thực dân xâm lược, dân tộc ta nhất định phải có vũ khí hiện đại. Thấy rõ sự chênh lệch quá lớn về quân sự giữa Việt Nam và Pháp, Phạm Quang Lễ đã âm thầm tự học, nghiên cứu sâu về chế tạo vũ khí, một lĩnh vực bị chính quyền thực dân kiểm soát cực kỳ gắt gao và cấm đoán người xứ bản địa tiếp cận.
Suốt 11 năm sống và làm việc tại Pháp và Đức từ năm 1935 đến năm 1946, ông đã miệt mài lui tới các thư viện lớn, các trung tâm nghiên cứu vũ khí, sưu tầm hàng ngàn trang tài liệu bí mật về thuốc nổ, chất nổ, nguyên lý khí tài quân sự. Để không bị tình báo Pháp phát hiện, ông phải ghi chép bằng những ký hiệu riêng, cất giấu cẩn thận trong các cuốn sách kỹ thuật dân sự. Ông từng làm việc tại Cục Thiết kế Máy bay S.N.C.A.N và Xưởng Sản xuất Vũ khí của Tập đoàn Saint Chamond, những nơi đã cung cấp cho ông trải nghiệm thực tế vô giá về công nghệ chế tạo khí tài tiên tiến nhất thế giới lúc bấy giờ.
Quyết định lịch sử: Từ bỏ phồn hoa, nghe theo tiếng gọi Tổ quốc
Tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp để tham dự Hội nghị Fontainebleau. Chuyến đi này không chỉ mang ý nghĩa ngoại giao lịch sử mà còn là dịp để Bác Hồ chiêu mộ những nhân tài kiều bào yêu nước trở về xây dựng quê hương.
Thông qua sự giới thiệu của các hội viên Hội Việt kiều yêu nước, Bác Hồ đã gặp Phạm Quang Lễ. Nhận thấy ở người kỹ sư trẻ tuổi một tấm lòng nồng nàn yêu nước, một trí tuệ vượt trội cùng sự khiêm tốn, Bác đã ngỏ lời mời ông trở về nước tham gia kháng chiến.
Khi đó, Phạm Quang Lễ đang có một vị trí xã hội rất cao tại Pháp với mức lương tương đương 22 lượng vàng mỗi tháng, một con số khổng lồ có thể đảm bảo cho ông và gia đình cuộc sống vương giả suốt đời. Tuy nhiên, trước lời gọi của Tổ quốc và nhân cách lớn của Bác Hồ, ông không một chút băn khoăn. Ông quyết định gác lại tất cả, chấp nhận từ bỏ danh vọng, tiền tài, sự nghiệp đầy hứa hẹn ở châu Âu để dấn thân vào gian khổ.
Tháng 9 năm 1946, Phạm Quang Lễ cùng các trí thức Việt kiều kiệt xuất khác như Nguyễn Khánh Toàn, Trần Hữu Tước, Võ Quý Huân bước lên chuyến tàu Đô đốc Lapicque cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Việt Nam.
Ngày 5 tháng 12 năm 1946, chỉ ít ngày trước khi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phạm Quang Lễ làm Cục trưởng Cục Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng. Tại Bắc Bộ Phủ, Bác Hồ nhẹ nhàng nói với ông rằng việc của chú làm là một việc đại nghĩa, vì vậy Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Họ Trần là họ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người đã có công lớn ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông. Bác mong chú sẽ làm nên những việc lớn cho dân tộc.
Cái tên Trần Đại Nghĩa chính thức ra đời từ đó, gắn liền với lịch sử quân giới cách mạng Việt Nam và trở thành biểu tượng của trí tuệ, lòng tận tụy vì nước vì dân.
Huyền thoại Cục Quân giới và những kỳ tích chế tạo vũ khí ở chiến khu Việt Bắc
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ đêm 19 tháng 12 năm 1946, ngành Cục Quân giới Việt Nam bước vào chiến đấu trong tình thế vô cùng thiếu thốn. Quân đội ta lúc đó trang bị cực kỳ thô sơ, chủ yếu là gậy tầm vông, dáo mác, súng hỏa khí cũ kỹ thu được của quân Nhật, quân Pháp. Trong khi đó, quân đội Pháp được trang bị xe tăng, xe thiết giáp, pháo hạng nặng và máy bay chiến đấu hiện đại.
Trần Đại Nghĩa cùng các đồng chí của mình rút lên chiến khu Việt Bắc. Giữa rừng sâu nước độc, thiếu điện, thiếu máy móc chuyên dụng, thiếu nguyên vật liệu tinh chế, nguồn sắt thép chủ yếu là thu gom từng thanh ray đường sắt, vỏ pháo tịt ngòi hay phế liệu đạn dược, nhiệm vụ chế tạo vũ khí có khả năng diệt xe tăng Pháp tưởng chừng như là điều không tưởng.
Tuy nhiên, với nhãn quan khoa học uyên bác và tinh thần sáng tạo vô bờ bến, Trần Đại Nghĩa đã biến điều không thể thành có thể.
Vũ khí chống bọc thép Bazooka do Mỹ chế tạo trong Thế chiến II là một bí mật quân sự hàng đầu. Dù có tài liệu nghiên cứu trong đầu từ Pháp, nhưng việc chế tạo thành công một khẩu súng và đạn Bazooka hoạt động được trong điều kiện thiếu thốn của Việt Bắc lại là một kỳ công vượt bậc.
Thuốc nổ dùng cho đạn Bazooka yêu cầu loại thuốc phóng cháy chậm hình ống dài, điều mà Việt Nam hoàn toàn không có. Trần Đại Nghĩa đã nảy ra sáng kiến cực kỳ thông minh: dùng thuốc nổ nhang, tức loại thuốc súng thông thường, kết hợp với kỹ thuật ép đùn thô sơ, thay đổi cấu trúc hình học của hạt thuốc nổ để tạo ra tốc độ cháy chuẩn xác.
Đêm 3 tháng 3 năm 1947, chỉ chưa đầy 3 tháng sau khi lên chiến khu, cuộc thử nghiệm súng Bazooka đầu tiên diễn ra tại xưởng Giang Tiên ở Thái Nguyên. Quả đạn lao đi, xuyên thủng tấm thép dày 75 milimét trong sự reo hò nước mắt lăn dài của các đồng chí quân giới.
Chỉ ít ngày sau, trong chiến dịch Bến Cát Chùa Trầm, súng Bazooka do Trần Đại Nghĩa chế tạo đã lần đầu tiên lâm trận. Hai quả đạn Bazooka đã bắn cháy 2 xe tăng Pháp, bẻ gãy hoàn toàn trận càn của địch. Chiến công này đã gây chấn động cho bộ chỉ huy quân đội Pháp tại Đông Dương. Họ không thể tin rằng giữa rừng núi Việt Bắc, Việt Minh lại có thể tự sản xuất được loại vũ khí chống xe tăng hiện đại đến như vậy.
Năm 1949, thực dân Pháp xây dựng hệ thống đồn bốt, kiên cố hóa các căn cứ bằng bê tông cốt thép dày hàng mét nhằm bao vây chiến khu. Súng đại bác thông thường của ta không đủ sức công phá, còn Bazooka chỉ chuyên diệt xe tăng. Перед tình hình đó, Trần Đại Nghĩa lại bắt tay vào nghiên cứu chế tạo Súng không giật SKZ. Đây là loại khí tài nhẹ, cơ động nhưng có sức công phá vô cùng lớn, xấp xỉ pháo hạng nặng.
Bằng việc tính toán chính xác áp suất khí phụt ra phía sau để triệt tiêu lực giật của súng, Trần Đại Nghĩa đã thiết kế thành công dòng súng SKZ 60 milimét và SKZ 80 milimét.
Tại chiến trường Phố Ràng năm 1949, SKZ lần đầu xuất kích đã thổi bay các lô lô bê tông cố thủ của Pháp. Tại chiến trường Nam Bộ, đạn SKZ do Xưởng quân giới Nam Bộ chế tạo theo bản vẽ gửi vào của Trần Đại Nghĩa đã đánh sập hàng loạt tháp canh kiên cố, khiến quân Pháp hoảng loạn gọi SKZ của Việt Minh là kẻ hủy diệt đồn bốt. Trong cuốn sách lịch sử quân sự Pháp sau này, các tướng lĩnh Pháp đã phải thừa nhận rằng loại súng không giật SKZ mà Việt Minh tự sản xuất được là một đòn bất ngờ chua chát đối với họ, làm phá sản toàn bộ hệ thống phòng thủ bằng bê tông kiên cố mà Pháp đã tốn hàng triệu Franc xây dựng.
Không dừng lại ở Bazooka và SKZ, Giáo sư Trần Đại Nghĩa tiếp tục nghiên cứu và chế tạo thành công Bom bay, loại tên lửa hành trình thô sơ vào năm 1950. Loại bom này có khả năng mang lượng thuốc nổ lớn, tầm bắn xa tới vài kilômét, dùng để oanh tạc các căn cứ tập trung quân của Pháp như sân bay Bạch Mai hay các kho tàng đạn dược. Ông còn cải tiến các loại mìn, lựu đạn, đạn pháo tịt ngòi của địch thành vũ khí của ta, sáng chế ra chất nổ
Tấm gương sáng ngời về đạo đức và tinh thần Lao động sáng tạo
Trở thành Cục trưởng Cục Quân giới rồi Bộ trưởng Bộ Công Thương, sau này là Cục trưởng Cục Pháo binh, nắm trong tay quyền hạn lớn, nhưng Giáo sư Trần Đại Nghĩa luôn giữ một lối sống giản dị, khiêm nhường đến mức cảm động.
Tại các xưởng quân giới nằm sâu trong hang đá hay lòng đất Việt Bắc, người ta luôn thấy hình ảnh một vị Cục trưởng đầu trần, áo vải xắn tay áo, cùng công nhân khiêng những thanh sắt nặng hàng trăm cân, cùng ăn những bữa cơm độn sắn, độn khoai, cùng chịu đựng những cơn sốt xuất huyết rừng hạ gục cơ thể.
Có những giai đoạn thí nghiệm đạn dược nguy hiểm, nguy cơ cháy nổ vô cùng cao, ông luôn là người trực tiếp cầm kíp nổ, lắp ngòi đạn đầu tiên. Ông từng nói với các cộng sự rằng nếu có nguy hiểm, ông là người nghiên cứu nên ông phải chịu trách nhiệm trước tiên. Nếu ông không dám làm, sao có thể bảo công nhân làm được.
Tài năng của Trần Đại Nghĩa không chỉ đến từ thiên phú mà là kết quả của một năng lực lao động phi thường. Trong suốt những năm tháng kháng chiến, ông làm việc từ 14 đến 16 tiếng mỗi ngày. Ban ngày ông chỉ đạo sản xuất, kiểm tra xưởng, ban đêm dưới ánh đèn dầu tù mù, ông lại vùi đầu vào các con số, công thức tích phân, vi phân, cơ học chất khí và hóa học chất nổ.
Ông có khả năng tính toán nhẩm cực kỳ chính xác các thông số khí động học của đạn mà không cần đến máy tính điện tử thời hiện đại. Cuốn sổ tay của ông chứa đầy những phép tính phức tạp được giải bằng niềm đam mê cháy bùng và ý chí giải phóng dân tộc.
Tôn vinh danh hiệu Anh hùng Lao động và những đóng góp cho hòa bình
Năm 1952, Đại hội Mặt trận Liên Việt và Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại chiến khu Việt Bắc. Đây là sự kiện quan trọng nhằm vinh danh những cá nhân xuất sắc nhất trên mọi mặt trận kháng chiến.
Tại Đại hội này, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động đợt đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông cũng là một trong số ít những nhân vật tri thức đầu tiên được phong hàm Thiếu tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam vào năm 1948 khi mới 35 tuổi.
Lời vinh danh tại Đại hội đã ghi nhận Anh hùng Trần Đại Nghĩa là biểu tượng rực rỡ của tri thức Việt Nam yêu nước, người đã đem tài năng khoa học đỉnh cao phục vụ đắc lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng ngành Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam từ không đến có.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi với chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954, đất nước bước vào giai đoạn nửa nước có hòa bình, nửa nước tiếp tục đấu tranh thống nhất. Giáo sư Trần Đại Nghĩa lại tiếp tục được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách lớn lao:
Thứ trưởng Bộ Công Thương, Thứ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim.
Chủ nhiệm Ủy ban Kỹ thuật Nhà nước, nay là Bộ Khoa học và Công nghệ.
Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, nay là Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nơi ông là Viện trưởng đầu tiên.
Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
Ở bất kỳ vị trí công tác nào, ông cũng đem hết tâm huyết, trí tuệ để quy tụ đội ngũ trí thức, đặt nền móng vững chắc cho hệ thống nghiên cứu khoa học công nghệ của đất nước. Ông là người đề xướng và chỉ đạo nhiều chương trình nghiên cứu quan trọng phục vụ kinh tế dân sinh, đồng thời tiếp tục tham gia cố vấn cải tiến khí tài trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước như các giải pháp chống phong tỏa thủy lôi của Mỹ ở Hải Phòng, cải tiến tên lửa SAM 2 để tiêu diệt pháo hạm B 52.
Năm 1966, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, một vinh dự quốc tế vô cùng cao quý dành cho một nhà khoa học đến từ Việt Nam.
Bài học lịch sử và giá trị để lại cho thế hệ mai sau
Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa trút hơi thở cuối cùng vào ngày 9 tháng 8 năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 84 tuổi. Cuộc đời ông là một bản hùng ca trọn vẹn về sự tận tụy, hy sinh và cống hiến.
Trong thời đại ngày nay, khi nhiều bạn trẻ đối mặt với những lựa chọn về sự nghiệp và lợi ích cá nhân, cuộc đời của Trần Đại Nghĩa là câu trả lời đanh thép nhất cho câu hỏi về lý tưởng sống của người tri thức. Ông đã chứng minh rằng giá trị cao nhất của tri thức không phải là sự giàu sang cá nhân, mà là mức độ nó phụng sự cho độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân.
Trong hoàn cảnh gian khổ nhất, thiếu thốn nhất, Trần Đại Nghĩa không bao giờ khuất phục trước hoàn cảnh. Ông không chờ đợi điều kiện lý tưởng rồi mới làm việc, mà ông tự tạo ra điều kiện từ chính sự sáng tạo và đôi bàn tay của mình. Tinh thần biến cái không thể thành có thể của ngành Quân giới thời Trần Đại Nghĩa chính là bài học vô giá cho các doanh nghiệp, các nhà khoa học Việt Nam trong kỷ nguyên đổi mới sáng tạo và hội nhập toàn cầu.
Để ghi nhớ công lao to lớn của ông, tên của Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã được trân trọng đặt cho nhiều con đường sầm uất tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vĩnh Long. Nhiều trường trung học phổ thông chuyên nổi tiếng vinh dự mang tên ông. Giải thưởng Khoa học Trần Đại Nghĩa do Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trao tặng hàng năm đã trở thành giải thưởng danh giá tôn vinh các công trình khoa học có tính ứng dụng cao.
Hình ảnh vị Giáo sư khoác áo súng, trán đẫm mồ hôi bên những thỏi thuốc nổ giữa rừng già Việt Bắc mãi mãi là một biểu tượng đẹp đẽ và xúc động trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa không chỉ là cha đẻ của ngành Quân giới Việt Nam, mà ông còn là chiếc cầu nối kỳ diệu giữa tri thức hiện đại của thế giới với tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời ông đã đi vào huyền thoại, nhưng những bài học về lòng yêu nước, tinh thần lao động quên mình, sự khiêm tốn và trí tuệ sáng tạo của ông vẫn tiếp tục soi sáng con đường phát triển của đất nước.



