Anh hùng Lao động Trịnh Văn Y – Chuyện người Anh hùng xứ Dừa
Ông Trịnh Văn Y, sinh năm 1942, tại xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm. Trước đây, ông từng là cán bộ từ cấp xã, huyện, từ năm 1992 đến 2001 ông giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre. Bởi vậy, ông thấu hiểu những khó khăn, vất vả trong việc đi lại của người dân nông thôn với những cây cầu khỉ (cầu tạm bắc qua sông bằng tre, gỗ) nguy hiểm, trẻ em bị chết đuối do ngã sông, lật đò.
Ông tâm sự: “Lúc còn đương chức, phong trào làm đường, xây cầu cũng được tập trung quyết liệt, nhưng tỉnh còn nghèo; nhiều ốc đảo lớn, nhỏ bắt buộc phải đi cầu khỉ, đò ngang. Nghĩ lại, mình cảm thấy còn nợ dân nên quyết tâm vận động xây cầu, làm đường nông thôn giúp bà con đi lại thuận tiện”. Từ đó, ông phối hợp Sở Giao thông vận tải tỉnh Bến Tre thành lập Hội Khoa học - kỹ thuật Cầu đường Bến Tre và ông được bầu làm Chủ tịch Hội. Lúc mới thành lập, Hội Khoa học - kỹ thuật Cầu đường Bến Tre chỉ có 43 hội viên, nay đã lên gần 500 người và hoạt động trên tinh thần tự nguyện, tự giác và tự lực về kinh phí. Để hoạt động hiệu quả, ông thành lập Trung tâm tư vấn cầu đường để tư vấn xóa cầu khỉ, cầu tạm nhằm tìm nguồn và hỗ trợ kinh phí cho Hội hoạt động.
Suốt 17 năm ròng rã, thay vì nghỉ ngơi, vui vầy bên con cháu, ông Trịnh Văn Y lại đi khắp các vùng quê khảo sát, vận động kinh phí để xóa cầu khỉ, làm đường giao thông nông thôn. Đến nay, ông vận động được hơn 500 tỷ đồng, xây dựng gần 2.000 cây cầu bê-tông và hơn 400 km đường giao thông nông thôn. Nhiều cá nhân, tổ chức từ thiện trong nước và nước ngoài tìm đến ông để bàn việc tài trợ kinh phí xây dựng cầu, đường nông thôn như: Quỹ Schmitz (Cộng hòa Liên bang Đức) tài trợ số tiền tương đương 15 tỷ đồng; ông Tô-ni (nhà từ thiện người Thụy Sĩ) tài trợ 25 tỷ đồng, xây được 48 cây cầu; bà Trần Thị An Nghiên (Việt kiều Mỹ) giúp 1,8 tỷ đồng xây sáu cầu và 8 km đường bê-tông nông thôn; bà Võ Thị Bon (Việt kiều Mỹ) giúp 3,378 tỷ đồng xây 52 cầu, 6,5 km đường và 10 nhà tình thương… Ngoài ra, ông cùng Hội Khoa học - kỹ thuật Cầu đường tỉnh Bến Tre tư vấn kỹ thuật, vận động kinh phí xây dựng gần 200 công trình cầu, đường ở các tỉnh như: Bạc Liêu, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bình Dương, Bình Phước, Ninh Bình, Thanh Hóa...
Trong phong trào xây dựng nông thôn mới, ông là người khởi xướng chương trình “Vận động, hỗ trợ giao thông nông thôn” để cùng chính quyền ấp, xã vận động nhân dân đóng góp làm đường bê-tông ở nông thôn đạt hiệu quả cao. Hiện tại, cầu khỉ, cầu tạm trên địa bàn tỉnh đã cơ bản được xóa, ông đang thực hiện sáng kiến bảo trì giao thông nông thôn dựa vào cộng đồng dân cư ở ấp, xã. Phong trào duy tu, sửa chữa cầu, đường phục vụ đi lại an toàn, góp phần phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới đang được nhân rộng trong toàn tỉnh. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới vào năm 2009.
Ông là tấm gương điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ông cùng gia đình hiến 500 m2 đất vườn để mở đường mới từ tỉnh lộ 887 vào trung tâm xã Lương Phú (huyện Giồng Trôm). Ông Trịnh Văn Y cho rằng: “Học tập Bác, mình học đức tính cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; luôn phát huy tinh thần đoàn kết, nhất trí trong nội bộ. Quan trọng nhất là lo cho dân, vì sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Đã là cán bộ đảng viên, mình phải đi đầu lo cuộc sống cho dân với tất cả khả năng của mình”. Trong việc vận động xây cầu, làm đường, ông luôn công khai, minh bạch với quyết tâm “Một đồng tiền hỗ trợ cho dân cũng không mất” cho nên đã tạo được uy tín để các nhà hảo tâm tin tưởng, mạnh dạn đóng góp.
Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre Nguyễn Hữu Thọ cho biết: “Ông Trịnh Văn Y là gương điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cấp Trung ương và được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vào năm 2016. Từ đó đến nay, ông đã có những thành tích xuất sắc trong vận động xây dựng cầu, đường nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương”. Với những đóng góp to lớn cho xã hội, năm 2018, ông là cá nhân tiêu biểu được Trung ương chọn để biểu dương, tôn vinh nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11-6-1948 - 11-6-2018).
Ở tuổi 76, dù sức khỏe đã yếu nhưng ông vẫn quyết tâm dành những năm tháng còn lại để lo cho dân, lo cho sự phát triển của địa phương. Ông tâm sự: “Tôi vẫn làm công việc này, bạc đầu cũng chưa thôi, mà đến khi nào không đi được nữa mới thôi. Bây giờ cầu khỉ đã cơ bản xóa thì sẽ tiếp tục duy tu, bảo dưỡng hoặc thay thế để nhân dân đi lại an toàn và cũng là để tôi trả món nợ ân tình với người dân, với quê hương”.
NGÔ NGỌC BỈNH - ANH HÙNG LAO ĐỘNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Cá nhân ông Ngô Ngọc Bỉnh là người đã khởi xướng và lãnh đạo thực hiện thành công Chỉ thị 01 của Tỉnh ủy từ hơn 20 năm trước về cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư trên địa bàn tỉnh.
Từ thực tế cơ sở và chủ trương của Trung ương, ông đã đề xuất với Tỉnh ủy phát động phong trào “Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, nếp sống văn minh nơi công cộng” với mong muốn hình thành những cộng đồng dân cư văn hóa.
Với sự tham mưu của ông Ngô Ngọc Bỉnh, phong trào đã chọn việc đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng điện-đường-trường-trạm là điểm chỉ đạo đột phá.
Sau nhiều năm cống hiến làm công tác dân vận của Đảng, ở tuổi 73, ông Ngô Ngọc Bỉnh được Tỉnh ủy Vĩnh Long tín nhiệm và đề nghị tham gia vận động công tác nhân đạo xã hội của địa phương với vai trò Chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo (nay là Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin, người khuyết tật và bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Long).
Tâm huyết với công tác từ thiện, ông đã giúp người khuyết tật và trẻ mồ côi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long được hưởng chính sách bảo trợ xã hội; giúp Hội xây dựng được 10 bếp ăn từ thiện, mỗi ngày cung cấp trên 4.000 suất ăn miễn phí cho đối tượng bảo trợ tại các bệnh viện trong tỉnh.
Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh trao danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho ông Ngô Ngọc Bỉnh.
Nữ Anh hùng Lao động cả đời cống hiến cho khoa học
Tại Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ X (tháng 12/2020) có một phụ nữ tròn 80 tuổi, bước đi khập khiễng đến đại hội để nhận danh hiệu cao quý “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” của Nhà nước phong tặng. Đó là GS.TS. Thầy thuốc Nhân dân Huỳnh Phương Liên.
Cuộc chiến chống bệnh viêm não
Chuyên ngành vi sinh, thật ra ban đầu khá xa lạ với bác sĩ Phương Liên, nhưng khi đã lăn lộn với nghề, nhất là những tháng năm một sống một còn ở chiến trường Khu V, bác sĩ Phương Liên nhận ra đó là một hướng đi khá may mắn đối với bản thân. Bởi chính nhờ đi sâu vào nghiên cứu vi sinh mà lần đầu tiên ở nước ta, nhóm bác sĩ, kỹ thuật viên của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương Hà Nội do bác sĩ Phương Liên làm chủ đề tài, hoàn thiện công nghệ sản xuất vaccine viêm não Nhật Bản.
Trở về lại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương làm việc sau 6 năm ở chiến trường, bác sĩ Phương Liên được cử đi nghiên cứu sinh ở CHDC Đức đến năm 1987, sau đó được giao làm Chủ nhiệm Khoa Virus, phụ trách 11 phòng thí nghiệm của Viện Vệ sinh dịch tễ. Một năm sau, bác sĩ Phương Liên lại được cử sang Nhật học công nghệ sản xuất vaccine viêm não Nhật Bản từ não chuột (vaccine thế hệ 1). Đây là vaccine bất hoạt, tinh khiết, được Tổ chức Y tế thế giới công nhận chất lượng và cấp phép lưu hành trên thị trường thế giới. Riêng ở Việt Nam, năm 1997, Bộ Y tế chính thức đưa vaccine viêm não Nhật Bản vào chương trình tiêm chủng mở rộng hàng năm. Nhờ vậy mà bệnh viêm não Nhật Bản ở nước ta đã giảm rất nhiều.
GS.TS. Huỳnh Thị Phương Liên vẫn miệt mài nghiên cứu dù đã ở tuổi 81
Từ những thành công kể trên, uy tín của vaccine viêm não Nhật Bản - một sản phẩm công nghệ cao của Việt Nam đã xuất khẩu trên 5 triệu liều ra nước ngoài. Đây là lần đâu tiên nước ta có vaccine xuất khẩu. Và điều có ý nghĩa nhất là từ năm 1994 đến nay, trên cả nước chưa có một trường hợp nào bị tai biến do sử dụng vaccine viêm não Nhật Bản của Viện Vệ sinh dịch tễ sản xuất. Đó là phần thưởng vô giá đối với các bác sĩ ngành vi sinh học Việt Nam.
Đến tuổi được nghỉ hưu, người bác sĩ đã từng tham gia “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ấy thấy mình vẫn còn nợ cuộc đời nhiều lắm. Thế là năm 2006, bác sĩ Phương Liên bắt tay vào nghiên cứu công nghệ mới trong sản xuất vaccine viêm não Nhật Bản bất hoạt sản xuất trên tế bào Vero, là vaccine thế hệ 2 để chuẩn bị thay thế vaccine thế hệ 1, sản xuất từ não chuột. Đến năm 2018, bác sĩ Phương Liên được Bộ KH-CN chỉ định làm chủ nhiệm đề tài độc lập cấp nhà nước: “Nghiên cứu đánh giá tính an toàn và sinh miễn dịch trên người đối với vaccine viêm não Nhật Bản sản xuất trên tế bào Vero JECEVAX Vabiotech Việt Nam”.
Sau khi đưa vào thử nghiệm lâm sàng trên người lớn và trẻ em, vaccine JECEVAX cho kết quả rất an toàn, dung nạp tốt, đáp ứng kháng thể từ 99,6%-100% so với vaccine đối chứng. Tháng 1-2019 vaccine thế hệ 2 này được chọn là sản phẩm quốc gia trong chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước. Triển vọng năm 2021 vaccine viêm não Nhật Bản thế hệ 2 JECEVAX chất lượng cao sẽ được sản xuất để tiêm phòng bệnh viêm não Nhật Bản cho người dân.
Chính nhờ công trình nghiên cứu sản xuất vaccine phòng bệnh viêm não Nhật Bản của GS-TS - Thầy thuốc Nhân dân Huỳnh Phương Liên và các cộng sự mà căn bệnh viêm não Nhật Bản ngày nay không còn là nỗi ám ảnh kinh hoàng của các bậc làm cha mẹ.
Tốt nghiệp phổ thông, Huỳnh Phương Liên theo học ngành y đến năm 1966 tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội thì tình nguyện về quê hương Khu V tham gia chiến đấu. Được phân công chuyên khoa vi sinh, cô sinh viên vừa ra trường thật sự thất vọng. Đã ra mặt trận thì phải tham gia mổ xẻ, băng bó thương binh chứ sao lại ngồi trong phòng thí nghiệm? Cô đắn đo suy nghĩ mãi mới đề nghị với lãnh đạo chuyển sang ngành khác. Và câu trả lời của cấp trên là: Chuyên khoa vi sinh vào miền Nam sẽ tham gia chống chiến tranh vi trùng. Từ đó, người con gái xứ Quảng có tên Phương Liên ấy đã gắn bó suốt đời với ngành vi sinh học.
Sức mạnh của tình yêu
Tròn 80 tuổi đời, 54 năm làm việc không nghỉ ngơi với 114 công trình khoa học đã công bố trong các tạp chí trong và ngoài nước cùng không biết bao nhiêu huân chương, huy chương, giải thưởng cũng như các danh hiệu thi đua cao quý, nhưng với tôi, bác sĩ Huỳnh Phương Liên luôn là người bạn đồng hương tri kỷ, giỏi giang, thủy chung, tận tụy.
Tại chiến trường Khu V ác liệt và vô cùng gian khổ, thiếu thốn của những năm 1966-1972, Phương Liên được phân công phụ trách công tác phòng dịch bệnh. Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nguy hiểm, ác liệt mọi bề của cuộc chiến, nữ bác sĩ ấy đã gan góc vượt lên cùng đồng đội tổ chức sản xuất thành công các loại vaccine phòng chống bệnh tả, thương hàn và đậu mùa đang hoành hành ở đây và phòng chống chiến tranh vi trùng theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Y tế lúc bấy giờ là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch.
Năm 1966, khi vừa tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội, Phương Liên đã háo hức tình nguyện lên đường trở về miền Nam chiến đấu. 6 năm ròng rã trong hiểm nguy và bệnh tật, cùng với đồng chí, đồng đội, Phương Liên đã sống và làm việc như một chiến sĩ thực thụ. Cũng chính ở nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc ấy, người nữ bác sĩ trẻ Phương Liên có một mối tình sâu đậm với nhà văn Trần Tiến - Chu Cẩm Phong, cũng đang sống và làm việc tại Hội Văn nghệ Khu V. Họ đều là người cùng quê Hội An, cùng tập kết ra miền Bắc học tập và sau này đều xung phong trở về miền Nam tham gia chiến đấu.
Nhà văn Trần Tiến - Chu Cẩm Phong trong những năm sống và làm việc ở chiến trường đã ghi lại trong nhật ký của mình: “Anh hứa với em một lần nữa rằng cho đến khi trái tim anh ngừng đập, anh vẫn còn yêu em. Anh có thể chết trong cuộc chiến tranh này, nhưng tình yêu em thì anh mãi mãi không bao giờ tắt. Chiến tranh rồi sẽ qua đi, lúc ấy em sẽ say sưa nghiên cứu khoa học, sẽ phát minh theo ngành nghề của em. Còn anh sẽ cố gắng viết về những con người mà anh yêu dấu…”. Chính mối tình ấy đã giúp nữ bác sĩ Phương Liên có thêm sức mạnh, thêm nghị lực, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, nguy hiểm để sống và làm việc quên mình.
Trong cuộc chiến đấu sinh tử với kẻ thù những năm 70, nhà văn, nhà báo Trần Tiến - Chu Cẩm Phong đã vĩnh viễn nằm lại ở mảnh đất quê hương Quảng Nam lúc vừa tròn 30 tuổi! Khi ấy, bác sĩ Huỳnh Phương Liên cũng đang công tác tại Ban Dân y Khu V đầy bom đạn...
Được Nhà nước phong tặng Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Huỳnh Phương Liên báo tin vui đến chúng tôi: “Thế là mình đã sống xứng đáng với những người thân đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước và phần nào đó đã cố gắng sống thay họ”.
Chúng tôi hiểu, từ trong thâm tâm, bác sĩ Phương Liên muốn nói với các đồng nghiệp, bác sĩ, liệt sĩ cùng lên đường vào miền Nam chiến đấu như: Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Thị Trừng..., song từ nơi sâu thẳm tâm hồn, tôi biết Phương Liên muốn nói với người yêu Trần Tiến đã hy sinh năm 1971 rằng, bản thân chị đã thực hiện ước mơ của anh là khi hết chiến tranh sẽ say sưa nghiên cứu khoa học, sẽ phát minh và sáng tạo theo ngành nghề.
Ở tuổi “xưa nay hiếm”, Phương Liên làm sao có thể ngày ngày miệt mài trong phòng thí nghiệm với căn bệnh thoái hóa xương khớp nặng, phải nhờ đến phẫu thuật cột sống và hai đầu gối luôn đau nhức để nghiên cứu thành công vaccine viêm não Nhật Bản? Có lẽ, chính thế hệ thanh niên thời kháng chiến chống Mỹ trước năm 1975 đã rèn đúc nên những con người dám hy sinh tất cả vì Tổ quốc, vì nhân dân phục vụ và chính họ đã truyền cảm hứng sống và làm việc cho một lớp người hôm nay - lao động quên mình cho một cuộc sống đẹp tươi
Nữ anh hùng y tế Trương Thị Diên
Được đi dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ tư (tháng 12-1966), cô giáo Trương Thị Diên ở xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình vinh dự được gặp Bác Hồ, được nhận Huy hiệu của Người. Đó là niềm vinh dự và động lực lớn để cô phấn đấu đạt nhiều thành tích trong công tác và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
Năm 1959, khi 19 tuổi, Trương Thị Diên được cử đi tập huấn lớp nghiệp vụ dạy vỡ lòng ngắn ngày. Sau khóa học, chị trở về, buổi sáng dạy lớp vỡ lòng ở Hợp tác xã (HTX) Ngư nghiệp Quang Thịnh, thôn Thanh Khê, buổi chiều dạy lớp vỡ lòng ở làng Thanh Hà, xã Thanh Trạch. Tuy dạy học ở hai địa bàn cách xa nhau, lại vừa kiêm nhiệm làm công tác y tế, nhưng chị vẫn làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe, cứu chữa nhân dân trong thời kỳ đế quốc Mỹ ném bom, bắn phá Quảng Bình ác liệt.
Năm 1965, khi đang dạy vỡ lòng ở HTX Ngư nghiệp Quang Thịnh, máy bay Mỹ ập đến ném bom, cô giáo Trương Thị Diên nhanh chóng đưa 25 cháu vào hầm trú ẩn an toàn; phòng học bị sập, chị bị thương khi đang ở nắp hầm che chở cho các em. Do có thành tích trong giáo dục, nên cô giáo Diên được nhận Huy hiệu Bác Hồ gửi tặng.
Cuối tháng 12-1966, Trương Thị Diên được cấp trên cử ra Hà Nội dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước. Đoàn đại biểu của tỉnh Quảng Bình do đồng chí Đặng Gia Tất, Phó chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng đoàn, ra Hà Nội bằng xe ô tô. Thời chiến, đoàn vừa đi vừa phải tránh bom, nên gần một tuần mới ra đến Hà Nội và được nghỉ ở nhà khách 37 Hùng Vương. Trong đoàn, có chị Diên và chị Bình (khi đó là Chủ tịch Hội Phụ nữ tỉnh Quảng Bình) đem theo con nhỏ. Con gái của chị Diên là Nguyễn Thị Tố Uyên, khi đó mới được 6 tháng tuổi, ban tổ chức phải bố trí người trông con giúp. Trong thời gian diễn ra đại hội, chị Diên vinh dự hai lần được gặp Bác Hồ. Lần đầu vào ngày 30-12-1966, Bác Hồ đến dự khai mạc đại hội. Người phát biểu và biểu dương thành tích trong chiến đấu, sản xuất, công tác, học tập của các đại biểu, nhất là các đại biểu nhỏ tuổi, khuyết tật. Bác cũng nhắc nhở các anh hùng, chiến sĩ thi đua không được tự mãn, mà phải không ngừng rèn luyện để ngày càng tiến bộ.
Ngay sau đại hội, Đoàn đại biểu phụ nữ y tế Quảng Bình vinh dự được gặp Bác Hồ tại phủ Chủ tịch. Bác ân cần dặn dò các thành viên trong đoàn khi trở về quê hương phải cố gắng phục vụ nhân dân, phục vụ người bệnh tốt hơn, để góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trước khi ra về, Bác tặng mỗi chị em một chiếc Huy hiệu của Người; riêng đại biểu Diên và đại biểu Bình, có con nhỏ, còn được Bác tặng thêm mỗi người hai gói kẹo.
Nhìn lên bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với một số đại biểu về dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ tư, được treo trang trọng tại phòng khách của gia đình, bà Diên xúc động kể: "Khi đó, Hà Nội thời tiết lạnh lắm. Chị em chúng tôi mỗi người được phát một chiếc áo bông. Giờ nghỉ giải lao, Bác xuống hội trường nói chuyện với đại biểu. Bác ân cần hỏi tôi: “Cô làm nghề chi?”. Tôi lúng túng, chưa kịp trả lời thì đồng chí Đặng Gia Tất báo cáo: “Thưa Bác, cô này là Trương Thị Diên, làm công tác giáo dục và y tế ạ!”.
Bức ảnh chụp trong khoảnh khắc đó. Vài ngày sau, Trương Thị Diên bất ngờ nhận bức ảnh này từ một phóng viên và đã lưu giữ bức ảnh đến năm 1983, khi con út Nguyễn Thị Tố Uyên sang học tập tại Hungary. Trong hành trang đem theo của Tố Uyên có bức ảnh người mẹ được chụp ảnh với Bác Hồ, cùng dòng chữ: “Mạ tặng con tấm ảnh kỷ niệm khi bế con ra Hà Nội dự đại hội và được gặp Bác Hồ, tháng 10-1966”. Lời nhắn nhủ và kỷ vật tặng con gái trước lúc lên đường là nguồn động viên, khích lệ Tố Uyên, dù khó khăn vẫn phấn đấu vượt lên, đạt thành tích cao trong học tập. Năm 1986, Tố Uyên về nước, trao lại bức ảnh trên cho mẹ và gia đình lưu giữ cẩn thận đến nay. Bốn người con của bà Diên đều trưởng thành, là bác sĩ, kỹ sư. Cô con gái Tố Uyên ngày nào cùng bà ra Hà Nội dự hội nghị và được gặp Bác Hồ, nay đã 52 tuổi, công tác tại Sở Y tế Quảng Bình.
Với những thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước, ngay trong dịp diễn ra Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ tư, Trương Thị Diên được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Những lần được gặp Bác, hình ảnh và những lời căn dặn của Người vẫn luôn in đậm trong tâm trí của bà, là niềm động viên cổ vũ để bà nỗ lực phấn đấu trong công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Gần 80 tuổi đời, 53 năm tuổi Đảng, bà Diên vẫn luôn khắc ghi lời căn dặn của Bác, nêu gương sáng cho con cháu noi theo.



