Anh hùng Lao động tuổi 90 ở Lào Cai: Sức khỏe còn tốt thì không việc gì tôi phải nghỉ làm
Nhận danh hiệu Anh hùng Lao động ở tuổi 90, ông Vũ Hữu Lê chưa từng có suy nghĩ nghỉ ngơi mà vẫn muốn cống hiến nhiều hơn cho nông dân.
Khi ông được giới thiệu trên màn hình đại hội, cả hội trường với hơn 2.200 đại biểu đều ồ lên với sự ngưỡng mộ trước tinh thần và sức khỏe của vị giám đốc Anh hùng.
Mang tới đại hội chiếc túi nhỏ đựng báo cáo thành tích và những vật dụng cơ khí quen thuộc là bánh răng, ê-ke, thước đo cơ khí, chiếc compa cũ, ông Vũ Hữu Lê tự hào kể đã có hơn 200 bằng khen, giấy khen các loại.
Ông sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo tỉnh Phú Thọ. Năm 1958, sau khi học xong khóa đào tạo ngắn hạn về thủy lợi, ông được phân công lên tỉnh Yên Bái (cũ) công tác tại Phòng thiết kế chống hạn, Ty Thủy lợi. Năm 1963, ông được trao tặng Huân chương Lao động hạng ba vì có thành tích cao trong công tác thủy lợi chống hạn, cứu lúa.
Năm 1964, ông được cử đi học cơ khí nông nghiệp ở Liên Xô. Sau 6 năm, với tấm bằng đỏ (tốt nghiệp loại xuất sắc), ông về Việt Nam làm Phó giám đốc, rồi Giám đốc nhà máy cơ khí của tỉnh - nơi đã chế tạo nhiều dụng cụ, máy móc, thiết bị cải tiến phục vụ nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.
“Về nước, tôi cố gắng làm để đền ơn, đáp nghĩa vì Đảng và Nhà nước đã cho tôi đi học. Xuất thân từ nông dân ‘dãi nắng, dầm mưa’ nên sau khi học xong, tôi muốn giúp bà con đỡ vất vả. Càng làm tôi càng thấy phấn khởi và khỏe mạnh. Tôi coi 1 nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ” - ông Lê chia sẻ.
Sau hơn 20 năm làm tại nhà máy tỉnh, thời điểm đó nước ta mới “mở cửa”, cơ chế còn chưa thông thoáng nên ông Lê xin nghỉ hưu sớm 4 năm để dành tâm huyết cho việc nghiên cứu, chế tạo máy móc. Nhưng “tiền đâu ra” khi nghiên cứu sẽ cần kinh phí lớn? Ông quyết định đi buôn đồng nát 3 năm để tích góp.
“Kiếm được chục triệu bạc, tôi mở xưởng khoảng 300m2 với cái máy tiện là tài sản đầu tiên, vì muốn chế tạo máy thì nhất thiết phải có ‘máy cái’ trong đó gồm máy tiện. Còn máy khoan thì tôi đi nhặt nhạnh về tự lắp ráp lấy” - ông kể về thời kỳ đầu hành trình khởi nghiệp.
Xẻng, cuốc là những sản phẩm nông cụ đầu tiên ông Lê chế tạo ra, bởi ông tâm niệm “muốn phát triển thì phải theo hướng đi từ đơn giản đến phức tạp”. Ông cho rằng có ít tiền thì làm ít, dần dần tích cóp để đầu tư chứ không vay mượn nhiều, “vì lỡ thất bại là chết”.
Chiếc máy phức tạp cần nhiều trí tuệ, công sức đầu tiên mà ông chế tạo là máy vò chè. Tỉnh Yên Bái (cũ) và các tỉnh xung quanh có nhiều nông - lâm sản như cây chè, cây quế nên xưởng của ông đi sâu vào sản xuất các máy như máy chế biến chè, từ công suất nhỏ 1 tấn lên 60 tấn/ngày chạy bằng máy nổ hoặc điện.
Lúc bấy giờ, máy vò chè trên thị trường giá rất cao, lên tới hàng trăm triệu đồng. Số tiền này là quá lớn, nhiều hộ dân không thể trả nổi.
“Cái máy vò chè của Liên Xô rất đắt, phải 300-400 triệu đồng, trong khi vàng chỉ 100 nghìn đồng/chỉ thôi” - ông tâm sự. Sau 2 năm với nhiều đêm thức trắng, “mất ăn, mất ngủ”, thất bại nhiều lần, ông đã chế tạo thành công chiếc máy vò chè đầu tiên. Chiếc máy có công suất và làm ra chè với chất lượng tương đương máy nhập ngoại mà giá thành thấp hơn nhiều, phù hợp cho sản xuất nông hộ.
Trong 1 năm, ông bán được 500 máy chỉ với 30 triệu đồng/chiếc. Ông đặt lợi nhuận chỉ khoảng 3-5% vì chủ yếu để phục vụ bà con nông dân.
Từ đầu năm 2022, công ty của ông đã nghiên cứu, chế tạo mới "máy vò chè đa năng". Máy có công suất tới 220kg/lần vò, dùng cho cả 2 loại chè xanh và chè đen, với thiết kế mới giúp chè khi vò có sóng đẹp, không bị vón cục và dập nát, năng suất tăng 3,5 lần so với các loại máy cũ. Đến nay, ông đã bán ra thị trường gần 1.000 máy.
Càng về sau, ông Lê càng cho ra đời các chủng loại máy cơ giới hóa và tự động hóa nhiều hơn, phức tạp hơn như: nồi chưng cất tinh dầu quế; hệ thống sấy, băm vỏ quế; máy nghiền, sấy củ dong; hệ thống làm miến; máy băm gỗ, cây thuốc…
Ông cho biết không nhớ rõ đã chế tạo bao nhiêu loại máy móc nhưng có 12 chủng loại máy chính, trong mỗi chủng loại là hàng chục loại máy. Hàng nghìn sản phẩm mang thương hiệu Hồng Hà của ông đã có mặt ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước.
Người kỹ sư già cho hay nghề cơ khí đòi hỏi sự chịu khó. “Ngày nào cũng vậy, cứ 5 giờ sáng là tôi có mặt ở xưởng, đêm nào cũng phải ngồi nghiên cứu tính toán”.
Mỗi năm, ông cho ra đời 2-3 đề tài nghiên cứu, vì trong cuộc sống của người nông dân luôn luôn có sự thay đổi. Chính những người nông dân đã cho ông các ý tưởng sáng tạo. Thấy họ vất vả ép miến bằng tay, ông về nghĩ ra máy ép miến dong. Thấy họ lụi cụm nhặt sạn trong nông sản như những chú chim nhặt thóc, ông về nghĩ ra máy lọc tạp chất…



