Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng Lê Hữu Trạc

Lê Hữu Trạc – một người lính từng chiến đấu anh dũng trong thời chiến và sau đó bị mất cả hai mắt do bom đạn. Dù chịu tổn thương nặng nề, ông không khuất phục số phận mà vươn lên bằng nghị lực phi thường, xây dựng cuộc sống, chăm lo gia đình và tích cực giúp đỡ cộng đồng. Ông còn góp phần thành lập Hội Người mù, hỗ trợ nhiều người cùng hoàn cảnh. Câu chuyện của ông là tấm gương tiêu biểu về ý chí kiên cường, lòng yêu nước và tinh thần sống có ích, truyền cảm hứng mạnh mẽ cho thế hệ trẻ hôm nay.

Thái Nguyên03/04/2026Nguyễn Thị Thuỳ Linh (GDTH K58C)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người thương binh mù hai mắt với ý chí kiên cường vượt lên chính mình

Câu chuyện về ông Lê Hữu Trạc – người lính đi qua chiến tranh bằng lòng dũng cảm và đi qua bóng tối bằng nghị lực phi thường

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, “thời hoa lửa” là cách gọi đầy xúc động về những năm tháng chiến tranh ác liệt nhưng cũng vô cùng hào hùng của dân tộc Việt Nam. Đó là một thời kỳ mà bom đạn, mất mát và hy sinh luôn hiện hữu, nhưng cũng chính là giai đoạn tỏa sáng rực rỡ của lòng yêu nước, tinh thần bất khuất và ý chí chiến đấu kiên cường của biết bao con người Việt Nam. Trong thời hoa lửa ấy, nhiều người đã để lại một phần máu thịt của mình nơi chiến trường, mang trên mình những vết thương không bao giờ lành, nhưng vẫn tiếp tục sống đẹp, sống có ích sau chiến tranh. Ông Lê Hữu Trạc là một tấm gương tiêu biểu như thế. Dù bị bom đạn cướp đi ánh sáng của cả hai mắt, ông vẫn không đầu hàng số phận, mà bằng nghị lực phi thường đã vượt lên chính mình, trở thành biểu tượng đẹp của phẩm chất người lính Cụ Hồ trong cả chiến tranh và thời bình.

Cuộc đời ông là một câu chuyện đặc biệt. Đó không chỉ là câu chuyện về một người lính từng chiến đấu giữa mưa bom bão đạn, mà còn là câu chuyện về một thương binh bị mù cả hai mắt nhưng chưa bao giờ để mình khuất phục trước số phận. Nếu chiến tranh đã lấy đi ánh sáng nơi đôi mắt của ông, thì ý chí, nghị lực và tinh thần cách mạng trong ông lại càng sáng hơn. Ông sống đúng với phẩm chất của người lính Cụ Hồ: dù cơ thể bị thương tật, nhưng tinh thần không tàn phế; dù cuộc đời có nhiều mất mát, nhưng lòng tin và sự cống hiến vẫn vẹn nguyên.

Những ngày đầu trong quân ngũ, ông được phân về Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341. Đơn vị của ông đóng quân ở tuyến lửa Vĩnh Linh, một nơi có vị trí đặc biệt quan trọng vì nằm gần giới tuyến 17. Trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, mỗi người lính ở đây đều mang trên vai một nhiệm vụ vô cùng nặng nề: bảo vệ miền Bắc, bảo vệ hậu phương lớn của cả dân tộc. Cuộc sống nơi tuyến lửa không hề dễ dàng. Bom đạn có thể ập xuống bất cứ lúc nào, sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Thế nhưng, những người lính trẻ như ông Trạc vẫn kiên cường bám trụ, chiến đấu với tinh thần quả cảm và lòng tin mãnh liệt vào ngày đất nước thống nhất.

Năm 1965, chiến tranh ngày càng khốc liệt, đế quốc Mỹ mở rộng đánh phá ra miền Bắc. Trong hoàn cảnh đó, đảo Cồn Cỏ trở thành một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Hòn đảo nhỏ giữa biển ấy nằm gần giới tuyến, có vai trò như một tiền đồn án ngữ ngoài khơi, vừa quan sát hoạt động của địch, vừa bảo vệ hướng biển cho miền Bắc. Chính vì vậy, Cồn Cỏ luôn nằm trong tầm ngắm của kẻ thù. Địch muốn chiếm đảo để làm bàn đạp đánh sâu vào hậu phương miền Bắc, còn ta thì quyết tâm giữ đảo bằng mọi giá.

Khi đơn vị nhận lệnh lựa chọn một trung đội ra bảo vệ đảo Cồn Cỏ, tất cả chiến sĩ đều xung phong. Ai cũng hiểu đó là nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm, nhưng không một ai chùn bước. Điều đó cho thấy tinh thần yêu nước và trách nhiệm lớn lao của lớp thanh niên thời ấy. Ông Lê Hữu Trạc cũng là một trong những người hăng hái xung phong. Trước khi ra đảo, ông và đồng đội còn cạo trọc đầu để bớt phải dùng nước ngọt, vì trên đảo điều kiện sinh hoạt rất khó khăn. Chi tiết ấy nghe qua có vẻ nhỏ, nhưng lại cho thấy sự chủ động, tinh thần chịu gian khổ và ý thức vì nhiệm vụ của những người lính năm xưa.

Ban đầu, trung đội của ông chỉ được giao ra đảo trong thời gian ngắn. Nhưng sau đó, vì tinh thần chiến đấu quá tốt, đơn vị tiếp tục được giao ở lại. Trên đảo, nhiệm vụ của những người lính không chỉ là cầm súng chiến đấu. Họ còn phải xây dựng, củng cố trận địa, theo dõi hoạt động của tàu chiến, máy bay địch và báo cáo kịp thời cho cấp trên. Có thể nói, họ vừa là người chiến đấu, vừa là những “đôi mắt” canh giữ vùng biển của Tổ quốc.

Cuộc sống trên đảo Cồn Cỏ vô cùng gian khổ. Đảo nhỏ, điều kiện thiếu thốn, nước ngọt hiếm, tiếp tế từ đất liền lại không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có những thời điểm địch bao vây, tàu của ta không thể ra tiếp tế suốt nhiều tháng. Thế nhưng, giữa nắng gió khắc nghiệt và bom đạn ác liệt, những người lính trên đảo vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu. Ông Lê Hữu Trạc luôn động viên đồng đội bằng ý chí kiên cường của mình. Chính trong những hoàn cảnh khó khăn ấy, phẩm chất đẹp nhất của người lính được thể hiện rõ nhất: dũng cảm, bền bỉ, không lùi bước trước gian nguy.

Từ năm 1965 đến năm 1968, quân và dân trên đảo Cồn Cỏ đã lập được nhiều chiến công xuất sắc, bắn rơi máy bay, bắn cháy tàu chiến địch, giữ vững vị trí tiền tiêu giữa biển khơi. Trong những chiến công đó có phần đóng góp không nhỏ của ông Lê Hữu Trạc và đồng đội. Nhưng điều khiến em ấn tượng không chỉ là những con số chiến thắng, mà còn là tinh thần chiến đấu đến cùng của họ. Giữa hoàn cảnh ác liệt như vậy, họ vẫn không nghĩ đến bản thân trước tiên, mà chỉ nghĩ đến nhiệm vụ, đến đồng đội và đến sự bình yên của Tổ quốc.

Cũng trong những năm tháng ấy, nhiều đồng đội của ông đã trở thành những tấm gương anh hùng. Có người bị thương vẫn không rời trận địa. Có người vừa tỉnh lại sau khi bị bom vùi lấp đã tiếp tục chiến đấu. Có người bất chấp hiểm nguy để gỡ bom, gỡ ngư lôi bảo vệ đơn vị. Những câu chuyện ấy cho thấy chiến tranh tuy tàn khốc nhưng cũng chính là nơi tôi luyện bản lĩnh và làm sáng lên phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam. Sống trong một tập thể như vậy, ông Lê Hữu Trạc chắc chắn cũng được tiếp thêm rất nhiều niềm tin và sức mạnh.

Năm 1966, ông cùng đồng đội vui mừng nhận được thư động viên, khen ngợi của Bác Hồ, và đảo Cồn Cỏ được phong tặng danh hiệu Anh hùng. Đây không chỉ là niềm tự hào của riêng những người đang trực tiếp chiến đấu trên đảo, mà còn là niềm tự hào chung của cả dân tộc. Đó là sự ghi nhận xứng đáng cho những hy sinh, gian khổ và tinh thần chiến đấu bất khuất của những người lính nơi đầu sóng ngọn gió.

Đầu năm 1968, ông Lê Hữu Trạc được điều về đất liền làm Đại đội trưởng Đại đội Lê Hồng Phong. Sau đó, ông tiếp tục được giao giữ những cương vị quan trọng hơn. Ở bất cứ vị trí nào, ông cũng thể hiện rõ bản lĩnh của một người chỉ huy gan dạ, sáng suốt và có trách nhiệm. Điều đó cho thấy ông không chỉ là một chiến sĩ dũng cảm mà còn là một người lãnh đạo được đồng đội tin tưởng, kính trọng.

Thế nhưng, chiến tranh luôn chứa đựng những mất mát không thể lường trước. Tháng 7 năm 1968, trong một lần đi nghiên cứu địa hình để chuẩn bị phương án chống địch đổ bộ bằng đường không vào Vĩnh Linh, Quảng Trị, ông đã bị bom đạn cướp đi cả hai con mắt. Đó là một cú sốc vô cùng lớn đối với một người lính đang ở độ tuổi sung sức, đang hết lòng vì nhiệm vụ và vẫn còn nhiều dự định cống hiến cho đất nước. Việc mất đi ánh sáng của đôi mắt không chỉ là tổn thương về thể xác, mà còn là nỗi đau tinh thần vô cùng sâu sắc.

Điều khiến em xúc động là chi tiết ông phải rời xa đơn vị, trở về tuyến sau điều trị và nhiều đêm lặng lẽ giấu nước mắt vào trong gối. Một người lính từng sống giữa đồng đội, giữa trận địa, từng quen với việc đối mặt với hiểm nguy, nay phải chấp nhận một cuộc sống không còn ánh sáng, đó chắc chắn là một mất mát quá lớn. Nhưng chính từ đây, nghị lực phi thường của ông mới càng được thể hiện rõ hơn.

Sau khi điều trị, ông trở về Quảng Bình, lập gia đình và có ba người con. Không còn nhìn thấy bằng đôi mắt, cuộc sống hằng ngày đối với ông chắc chắn khó khăn hơn rất nhiều lần so với người bình thường. Thế nhưng, ông không để bản thân chìm trong đau khổ hay mặc cảm. Ông vẫn cần mẫn làm việc, cố gắng vượt lên hoàn cảnh để chăm lo cho gia đình. Điều đó cho thấy ông không chỉ là người lính dũng cảm trong chiến tranh, mà còn là một con người mạnh mẽ trong cuộc sống đời thường.

Theo em, điều đáng quý nhất ở ông Lê Hữu Trạc không chỉ là việc ông đã chịu đựng và vượt qua đau thương cá nhân, mà còn là việc ông vẫn tiếp tục sống vì người khác. Năm 2000, ông đã làm tờ trình gửi lãnh đạo tỉnh Quảng Bình để thành lập Hội Người mù của tỉnh. Đây là việc làm có ý nghĩa rất lớn. Bởi vì khi đã từng trải qua cảm giác mất đi ánh sáng, ông hiểu rõ hơn ai hết những khó khăn của người khiếm thị. Ông không chỉ nghĩ cho bản thân, mà còn nghĩ cho những người cùng cảnh ngộ, nghĩ cho con em thương binh, bệnh binh và những người không may bị khiếm thị.

Từ khi Hội Người mù được thành lập, nhiều người đã có cơ hội được hỗ trợ, được tạo việc làm và có thêm niềm tin để sống tự lập. Như vậy, ông không chỉ vượt qua chính mình, mà còn trở thành người mở đường, tiếp thêm hy vọng cho người khác. Em nghĩ đây là một điều rất đáng khâm phục. Bởi có những người khi gặp biến cố thì khép mình lại, nhưng ông Trạc thì ngược lại: ông biến nỗi đau của bản thân thành động lực để giúp đỡ cộng đồng.

Ngay cả khi tuổi đã cao, ông vẫn thường xuyên quan tâm, động viên con em trong xóm, trong thôn cố gắng học hành, rèn luyện đạo đức và ghi nhớ công ơn của các thế hệ cha ông đi trước. Những việc làm ấy tuy giản dị nhưng rất ý nghĩa. Nó cho thấy một tấm lòng luôn hướng về cộng đồng, luôn mong muốn thế hệ trẻ sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và đất nước.

Năm 2019, ông Lê Hữu Trạc được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tại buổi gặp mặt, tuyên dương thương binh nặng tiêu biểu toàn quốc. Ông là một trong 72 gương thương binh nặng tiêu biểu được biểu dương vào ngày 25/7/2019. Đây là sự ghi nhận xứng đáng cho những hy sinh, đóng góp và nghị lực sống đáng trân trọng của ông. Tuy nhiên, theo em, phần thưởng lớn nhất của ông có lẽ không chỉ nằm ở tấm bằng khen, mà nằm ở sự kính trọng của mọi người, ở việc câu chuyện cuộc đời ông trở thành nguồn cảm hứng cho rất nhiều thế hệ.

Khi tìm hiểu về ông Lê Hữu Trạc, em cảm nhận rất rõ một điều: chiến tranh có thể cướp đi nhiều thứ của con người, nhưng không thể cướp đi ý chí nếu con người không tự buông bỏ nó. Ông mất đi đôi mắt, nhưng không mất đi niềm tin. Ông mất đi một phần cơ thể, nhưng không mất đi lý tưởng sống. Ngược lại, từ trong nghịch cảnh, ông lại càng cho thấy sức mạnh tinh thần phi thường của một con người Việt Nam, của một người lính Cụ Hồ.

Đối với thế hệ trẻ hôm nay, câu chuyện của ông là một bài học rất sâu sắc. Chúng em được sống trong hòa bình, không phải đối mặt với bom đạn, có đầy đủ điều kiện học tập và phát triển hơn rất nhiều. Vậy nên, không có lý do gì để chúng em sống thờ ơ, lãng phí thời gian hay dễ dàng đầu hàng trước khó khăn. So với những gì ông Lê Hữu Trạc đã trải qua, những trở ngại trong học tập và cuộc sống của chúng em thật ra nhỏ bé hơn rất nhiều. Điều quan trọng là phải biết cố gắng, biết kiên trì và biết sống có trách nhiệm.

Câu chuyện về ông cũng giúp em hiểu rằng lòng yêu nước không chỉ thể hiện ở chiến trường. Trong thời bình, lòng yêu nước còn thể hiện qua cách mỗi người sống tử tế, học tập nghiêm túc, làm việc có trách nhiệm và biết cống hiến cho cộng đồng. Ông Lê Hữu Trạc đã làm được điều đó trong suốt cả cuộc đời mình. Ông là minh chứng rõ ràng cho tinh thần “thương binh tàn nhưng không phế”, một tinh thần đẹp và rất đáng trân trọng.

Có thể nói, cuộc đời ông Lê Hữu Trạc giống như một ngọn lửa âm thầm nhưng bền bỉ. Dù không còn nhìn thấy ánh sáng bằng đôi mắt, ông vẫn giữ được ánh sáng trong ý chí, trong nhân cách và trong cách sống của mình. Ánh sáng ấy không chỉ soi đường cho chính ông, mà còn lan tỏa đến nhiều người xung quanh, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.

Qua câu chuyện về ông, em càng thêm biết ơn những người đã hy sinh, cống hiến cho đất nước. Đồng thời, em cũng tự nhắc bản thân phải sống tốt hơn, cố gắng hơn, biết quý trọng hiện tại và không ngừng rèn luyện để trở thành người có ích. Bởi vì cách tốt nhất để tri ân thế hệ đi trước không chỉ là nhớ ơn, mà còn là sống sao cho xứng đáng với những hy sinh của họ.

Ông Lê Hữu Trạc là hình ảnh đẹp của người lính Việt Nam trong chiến tranh và cả trong thời bình. Cuộc đời ông không chỉ là một câu chuyện cảm động, mà còn là một bài học lớn về lòng yêu nước, về ý chí vượt lên nghịch cảnh và về tinh thần sống vì cộng đồng. Dù đã trải qua biết bao đau thương, mất mát, ông vẫn giữ được phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng. Với em, ông thật sự là một tấm gương sáng để học tập và noi theo

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn