Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng Lê Hữu Trạc: Chiến sĩ Đại đội Lê Hồng Phong bảo vệ giới tuyến Vĩnh Linh

Có những người lính trở về từ chiến tranh mang trên mình những vết thương không bao giờ lành. Có người để lại một phần thân thể nơi chiến trường, có người mang theo suốt cuộc đời ký ức về những đồng đội đã nằm lại. Với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc, chiến tranh đã vĩnh viễn lấy đi ánh sáng của đôi mắt khi ông còn rất trẻ. Nhưng có một thứ ánh sáng mà bom đạn không thể nào dập tắt – đó là lòng yêu nước, ý chí của người lính và niềm tin vào cuộc sống.

Quảng Trị12/08/2026Phan Chí Tiến (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh UBND tỉnh Quảng Trị)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lê Hữu Trạc quê ở thôn Xuân Dục, xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Tháng 4/1962, khi vừa bước qua tuổi đôi mươi, theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông lên đường nhập ngũ, trở thành người lính của Đại đội Lê Hồng Phong, thuộc Trung đoàn 270, làm nhiệm vụ trên vùng giới tuyến Vĩnh Linh. Đó là nơi mà chỉ vài năm sau sẽ trở thành một trong những chiến trường khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Viết tâm thư bằng máu xin ra Cồn Cỏ

Năm 1965, chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc ngày càng ác liệt. Ngoài khơi Vĩnh Linh, đảo Cồn Cỏ trở thành một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Hòn đảo nhỏ giữa biển khơi được ví như “mắt thần trên biển”, vừa là tiền đồn bảo vệ miền Bắc, vừa án ngữ vùng biển phía Đông của giới tuyến quân sự tạm thời.

Khi đơn vị được giao lựa chọn một trung đội ra bảo vệ Cồn Cỏ, Lê Hữu Trạc lúc ấy là Trung đội phó đã cùng đồng đội viết tâm thư bằng máu xin được ra đảo chiến đấu. Những người lính trẻ còn cạo trọc đầu trước khi lên đường, một hành động vừa thể hiện quyết tâm, vừa nhằm tiết kiệm nước ngọt trong điều kiện sinh hoạt vô cùng thiếu thốn trên đảo.

Tháng 7/1965, Trung đội của Lê Hữu Trạc vượt khoảng 17 hải lý giữa sự phong tỏa của máy bay và tàu chiến địch để đặt chân lên Cồn Cỏ.

Theo kế hoạch ban đầu, họ chỉ ra đảo khoảng hai tháng rồi được thay quân.

Nhưng hai tháng ấy cuối cùng kéo dài thành gần 1.000 ngày đêm.

Gần ba năm giữa biển khơi là gần ba năm những người lính sống trong mưa bom, bão đạn. Máy bay quần thảo trên trời, tàu chiến bao vây ngoài biển. Mặt đất Cồn Cỏ nhiều lần bị bom đạn cày xới, cây cối bị tàn phá. Bộ đội vừa chiến đấu, vừa đào hầm hào, củng cố trận địa, bảo vệ từng mét đất của đảo.

Có thời điểm tuyến tiếp tế từ đất liền ra đảo bị phong tỏa suốt nhiều tháng. Nước ngọt cạn kiệt, những người lính phải chặt thân chuối rừng vắt lấy nước uống. Đồng đội ngã xuống, người còn sống lại bước lên thay vị trí chiến đấu.

Giữa hoàn cảnh ấy, ý chí của Lê Hữu Trạc và những người lính Cồn Cỏ chỉ gói gọn trong một quyết tâm:

Thà hy sinh chứ không để mất đảo.

Trong những năm tháng chiến đấu ác liệt 1965–1968, lực lượng bảo vệ Cồn Cỏ đã lập nên nhiều chiến công xuất sắc. Riêng trong ba năm này, các đơn vị trên đảo bắn hạ 48 máy bay, trong đó có 29 chiếc rơi tại chỗ; bắn cháy 17 tàu chiến và 2 thuyền của địch. Đảo Cồn Cỏ hai lần được tuyên dương danh hiệu Đơn vị Anh hùng. Năm 1966, Lê Hữu Trạc cùng đồng đội trên đảo còn vinh dự nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi, động viên.

Rời đảo nhưng không rời chiến trường

Mùa xuân năm 1968, Lê Hữu Trạc được điều trở lại đất liền, chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong. Từ một người lính đã trải qua gần ba năm giữ đảo, ông tiếp tục cùng đơn vị tham gia những trận đánh nhằm ngăn chặn tuyến tiếp viện của quân Mỹ từ Cửa Việt lên chiến trường Đường 9 – Khe Sanh.

Ông và đồng đội đánh chặn tàu địch trên sông, đánh sập cầu Bến Ngự, góp phần cắt đường tiếp tế của đối phương. Đại đội Lê Hồng Phong sau đó được tuyên dương danh hiệu Anh hùng.

Nhưng chiến tranh đã để lại cho người chỉ huy trẻ một mất mát quá lớn.

Tháng 8/1968, khi đang giữ cương vị Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270, Quân khu IV, Lê Hữu Trạc cùng chiến sĩ liên lạc đi trinh sát địa hình phía Tây Vĩnh Linh, chuẩn bị phương án chống quân địch đổ bộ đường không.

Một quả bom nổ chậm phát nổ.

Người chiến sĩ liên lạc đi cùng ông hy sinh tại chỗ.

Lê Hữu Trạc bị sức ép hất tung, hai nhãn cầu bị phá hủy.

Ở tuổi chưa đầy 30, người lính từng trải qua gần 1.000 ngày giữa bom đạn Cồn Cỏ vĩnh viễn không còn nhìn thấy ánh sáng.

Mất đôi mắt nhưng không mất niềm tin

Đối với một người lính đang ở độ tuổi sung sức, đang chỉ huy đơn vị và khao khát tiếp tục chiến đấu, mất đi đôi mắt là một cú đánh nghiệt ngã.

Nhưng Lê Hữu Trạc đã lựa chọn không đầu hàng số phận.

Sau thời gian điều trị, ông phải sử dụng đôi mắt giả. Những năm ở Trại an dưỡng Ba Vì, ông gặp bà Kim Thị Mão, một cô gái quê Hà Tây. Cảm phục nghị lực và phẩm chất của người thương binh trẻ, bà đã lựa chọn gắn bó cuộc đời mình với ông. Năm 1972, hai người trở về quê hương Xuân Ninh xây dựng gia đình và bắt đầu một cuộc sống mới.

Chiến tranh kết thúc, nhưng tinh thần người lính trong Lê Hữu Trạc chưa bao giờ kết thúc.

Ông tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt cho những người cùng cảnh ngộ. Năm 2000, ông đề xuất thành lập Hội Người mù tỉnh Quảng Bình và trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội. Từ mái nhà chung ấy, nhiều người khiếm thị, thương binh và con em các gia đình khó khăn có thêm điều kiện học nghề, tìm việc làm, từng bước tự lập trong cuộc sống. Với những đóng góp đó, ông được Hội Người mù Việt Nam trao Kỷ niệm chương “Vì hạnh phúc người mù”.

Có lẽ chính vì đã sống quá lâu trong bóng tối nên ông càng hiểu giá trị của việc đem lại ánh sáng – theo một nghĩa khác – cho những người xung quanh.

“Danh hiệu anh hùng của tôi được tô thắm bằng máu của đồng đội”

Trong suốt quá trình chiến đấu, Lê Hữu Trạc ba lần được công nhận danh hiệu “Dũng sĩ”; được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng khác. Ngày 26/4/2018, Chủ tịch nước ban hành Quyết định số 621/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho thương binh hạng 1/4 Lê Hữu Trạc.

Nhưng khi nói về danh hiệu cao quý của mình, người cựu binh ấy vẫn dành phần lớn câu chuyện cho đồng đội.

Ông nhớ những người đã cùng mình giữ Cồn Cỏ; nhớ Anh hùng Thái Văn A, Trần Văn Mật; nhớ Đảo trưởng Trần Văn Thà; nhớ người chiến sĩ liên lạc Đỗ Như Đệ đã hy sinh trong chính chuyến trinh sát khiến ông mất đôi mắt.

Và ông từng nói một câu giản dị mà ám ảnh:

“Danh hiệu anh hùng của tôi được tô thắm bằng máu của đồng đội.”

Có lẽ đó cũng là cách chân thực nhất để hiểu về thế hệ của Lê Hữu Trạc.

Họ bước vào chiến tranh khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ không biết mình có trở về hay không, nhưng vẫn sẵn sàng viết tâm thư bằng máu để xin được đến nơi nguy hiểm nhất. Họ sống giữa một hòn đảo bị bom đạn cày xới, có lúc phải vắt nước từ thân chuối để uống, nhưng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện rời bỏ trận địa.

Lê Hữu Trạc đã mất ánh sáng của đôi mắt từ năm 1968, nhưng ông không sống phần đời còn lại trong bóng tối. Từ người chiến sĩ giữ đảo Cồn Cỏ đến người thương binh giúp đỡ những người khiếm thị, cuộc đời ông là hành trình nối dài của hai chữ cống hiến.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Cồn Cỏ hôm nay đã xanh trở lại. Biển vẫn vỗ quanh hòn đảo tiền tiêu mà năm xưa những chàng trai tuổi đôi mươi đã lấy tuổi xuân, máu và cả sinh mạng của mình để gìn giữ.

Và trong câu chuyện của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc, có một điều chiến tranh đã chứng minh: bom đạn có thể lấy đi đôi mắt của một con người, nhưng không thể lấy đi ánh sáng của lòng yêu nước, của niềm tin và khí phách người lính Việt Nam.

Đó là thứ ánh sáng đã giúp ông đi qua bóng tối của riêng mình.

Và cũng là thứ ánh sáng để các thế hệ hôm nay soi vào, hiểu hơn giá trị của hòa bình, biết ơn những người đã đi trước và tự nhắc mình phải sống sao cho xứng đáng với những hy sinh ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Anh hùng Lê Hữu Trạc: Chiến sĩ Đại đội Lê Hồng Phong bảo vệ giới tuyến Vĩnh Linh | Câu chuyện thời hoa lửa