ANH HÙNG LÊ LAI - TẤM GƯƠNG TRUNG NGHĨA CỨU CHÚA
Lê Lai là khai quốc công thần nhà Hậu Lê, nổi tiếng với hành động hy sinh cứu Lê Lợi năm 1418. Khi nghĩa quân Lam Sơn bị quân Minh vây ở núi Chí Linh, ông xin mặc áo bào chủ tướng xông ra đánh lạc hướng địch. Nhờ đó Lê Lợi thoát vây, tiếp tục lãnh đạo kháng chiến. Lê Lai bị giặc bắt và giết hại. Để ghi nhớ công lao, vua Lê Thái Tổ truy phong ông là “Trung túc vương” và dặn giỗ Lê Lai trước giỗ vua một ngày. Câu “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” vẫn lưu truyền đến nay.
Lê Lai (? - 1418) là một vị khai quốc công thần nhà Hậu Lê, quê ở Dựng Tú, Thanh Hóa. Ông là một trong những người đầu tiên tham gia khởi nghĩa Lam Sơn cùng Lê Lợi từ năm 1418 và luôn được tin cậy vì lòng trung nghĩa, dũng cảm.
Công lao lớn nhất và được người đời nhắc mãi của Lê Lai là sự hy sinh “cứu chúa” trong trận vây hãm núi Chí Linh năm 1418. Khi đó, nghĩa quân Lam Sơn bị quân Minh vây chặt trên núi, lương thực cạn kiệt, tình thế vô cùng nguy cấp. Để cứu toàn bộ nghĩa quân và giữ lại Lê Lợi – người lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa, Lê Lai đã xin được mặc áo bào của chủ tướng, cưỡi ngựa xông ra ngoài khiêu chiến. Quân Minh tưởng đó là Lê Lợi thật nên dồn toàn lực vây bắt. Nhờ vậy, Lê Lợi và các tướng lĩnh mới có đường thoát khỏi vòng vây, bảo toàn lực lượng để tiếp tục kháng chiến.
Lê Lai bị giặc bắt, tra tấn dã man nhưng ông một mực không khai, sau đó bị giặc giết hại. Hành động xả thân vì nghĩa lớn của ông đã giúp cho khởi nghĩa Lam Sơn vượt qua thời điểm hiểm nghèo nhất. Nếu không có sự hy sinh ấy, có lẽ cuộc kháng chiến chống Minh đã thất bại từ sớm.
Để ghi nhớ công lao, sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã truy phong Lê Lai là “Trung túc vương” và giao hẹn: mỗi khi triều đình giỗ vua thì phải giỗ Lê Lai trước một ngày. Câu nói “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” vẫn còn lưu truyền trong dân gian đến nay. Tấm gương trung nghĩa, quên mình vì nước của Lê Lai mãi là biểu tượng đẹp về lòng trung thành và đức hy sinh của dân tộc.



