Anh hùng Lê Thị Mịch – Nữ xã đội trưởng gan dạ trên trận địa phá bom, giữ đường thông
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thị Mịch (sinh năm 1943), quê xã Tân Trường, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, là một nữ cán bộ dân quân tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ năm 1967 đến 1973, đồng chí trực tiếp chỉ huy chiến đấu, bắn máy bay, phá bom và bảo đảm giao thông. Với tinh thần bình tĩnh, dũng cảm, đồng chí đã phối hợp bắn rơi một máy bay F4, phá 96 quả bom các loại cùng hàng trăm quả bom khác với đơn vị, nhiều lần cứu người, cứu tài sản giữa bom đạn. Ngày 31-12-1973, đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Người nữ dân quân kiên cường trên quê hương Thanh Hóa
Đồng chí Lê Thị Mịch sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê tại xã Tân Trường, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Trường Lâm.
Trong những năm tháng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ác liệt, quê hương Tân Trường trở thành một trong những địa bàn phải đối mặt thường xuyên với bom đạn của máy bay Mỹ.
Từ năm 1967 đến 1973, đồng chí Lê Thị Mịch được cấp trên giao nhiều nhiệm vụ quan trọng như bắn máy bay, phá bom và bảo đảm giao thông tại địa phương.
Là người chỉ huy, đồng chí luôn thể hiện sự bình tĩnh, gan dạ và linh hoạt trong xử trí tình huống. Trong chiến đấu, đồng chí đã phối hợp cùng đơn vị bạn bắn rơi một máy bay F4 của đế quốc Mỹ.
Không sợ bom đạn, luôn đi đầu phá bom, cứu người
Không chỉ trực tiếp chiến đấu, Lê Thị Mịch còn là người luôn có mặt ở những nơi nguy hiểm nhất để bảo đảm giao thông.
Mỗi khi máy bay địch đánh phá, đường sá bị bom cày xới, bom chưa nổ nằm giữa các tuyến đường, đồng chí lại dẫn đầu đơn vị tiếp cận hiện trường.
Công việc của họ là phá bom, sửa đường, cứu hàng và cứu người, bảo đảm những tuyến giao thông quan trọng không bị đình trệ.
Trong những tình huống nguy hiểm, đồng chí luôn là người đi đầu.
Có lần, giữa lúc địch đánh phá dữ dội, một phương tiện bốc cháy. Không chần chừ, đồng chí Lê Thị Mịch xông vào dập lửa, cứu được một xe và đưa ba thương binh đến nơi an toàn.
Những hành động ấy thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm và lòng dũng cảm của người cán bộ dân quân trong thời chiến.
Năm 1972 – 67 lần địa phương bị máy bay địch đánh phá
Năm 1972 là thời điểm cuộc chiến đấu diễn ra đặc biệt ác liệt.
Chỉ riêng địa bàn xã đã phải hứng chịu 67 lần máy bay địch đánh phá.
Mỗi lần bom đạn trút xuống, Lê Thị Mịch lại có mặt tại những nơi nguy hiểm để tổ chức cứu người, cứu tài sản và khắc phục hậu quả.
Đặc biệt nguy hiểm là những quả bom nổ chậm, có thể phát nổ bất cứ lúc nào, đe dọa trực tiếp tính mạng người dân và lực lượng khắc phục hậu quả.
Không lùi bước trước hiểm nguy, đồng chí tìm mọi cách đào, gỡ và phá bom, góp phần bảo vệ tính mạng nhân dân và giữ cho các tuyến đường tiếp tục hoạt động.
Trong những năm tháng ấy, đồng chí đã trực tiếp phá được 96 quả bom các loại, đồng thời cùng đơn vị phá hàng trăm quả bom khác.
21 quả bom trong một ngày – bảo vệ mùa vụ của nhân dân
Một trong những chiến công tiêu biểu của đồng chí Lê Thị Mịch diễn ra ngày 10-8-1972.
Hôm đó, máy bay địch ném nhiều loại bom xuyên xuống khu ruộng chuẩn bị bước vào vụ cấy.
Đây là loại bom mới mà lần đầu tiên đồng chí phải đối mặt.
Trước tình hình đó, thay vì chờ đợi hoặc né tránh, Lê Thị Mịch xung phong trực tiếp xử lý.
Với tinh thần dũng cảm và kinh nghiệm thực tế, đồng chí đã đào được 21 quả bom, bảo đảm an toàn cho khu vực sản xuất.
Nhờ đó, bà con xã viên có thể tiếp tục công việc đồng áng, kịp thời đưa vụ cấy vào sản xuất.
Chiến công ấy cho thấy cuộc chiến đấu không chỉ diễn ra trên trận địa mà còn gắn trực tiếp với việc bảo vệ cuộc sống, sản xuất của nhân dân.
50 quả bom tại xã, tiếp tục phá 20 quả bom ở công trường đá
Ngày 15-9-1972, máy bay địch tiếp tục ném nhiều bom xuống địa bàn xã.
Trước tình hình nguy hiểm, Lê Thị Mịch trực tiếp chỉ huy tổ công tác tiến hành đào và xử lý bom.
Chỉ trong một đợt, tổ công tác đã đào được 50 quả bom, góp phần bảo đảm an toàn cho nhân dân và hoạt động sản xuất.
Sau đó, đồng chí tiếp tục chủ động đến công trường đá Hoàng Mai, gần xã Tân Trường, nơi cũng đang bị đe dọa bởi bom đạn.
Tại đây, đồng chí cùng lực lượng thực hiện nhiệm vụ đã đào, phá 20 quả bom, giúp công trường bảo đảm an toàn và tiếp tục hoạt động.
Những con số ấy phản ánh mức độ nguy hiểm của công việc mà người nữ dân quân phải đối mặt mỗi ngày, đồng thời thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm, không ngại hiểm nguy của đồng chí.
Người chỉ huy luôn đi đầu
Điểm nổi bật trong phẩm chất của Lê Thị Mịch là tinh thần “mình làm trước, đồng đội làm sau”.
Trong chiến đấu, đồng chí trực tiếp tham gia bắn máy bay.
Trong bảo đảm giao thông, đồng chí dẫn đầu đơn vị phá bom, sửa đường.
Khi có người bị thương, đồng chí xông vào khu vực nguy hiểm để cứu người.
Khi bom đe dọa đồng ruộng, đồng chí trực tiếp xử lý để bảo đảm sản xuất.
Phong cách ấy tạo niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân địa phương, đồng thời trở thành nguồn động viên để mọi người cùng vượt qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Nữ xã đội trưởng được phong tặng danh hiệu Anh hùng
Những thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu đã mang lại cho Lê Thị Mịch nhiều phần thưởng cao quý.
Đồng chí được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương, trong đó có Huân chương Chiến công hạng Nhất và 3 danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng.
Ngày 31-12-1973, Chủ tịch nước quyết định phong tặng đồng chí Lê Thị Mịch danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Khi được tuyên dương, đồng chí đang giữ cương vị Xã đội trưởng xã Tân Trường.
Tấm gương sáng của người phụ nữ Việt Nam thời chiến
Anh hùng Lê Thị Mịch là một trong những tấm gương tiêu biểu cho lực lượng dân quân tự vệ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Điều đáng trân trọng ở đồng chí không chỉ là những con số về bom đã phá hay chiến công bắn rơi máy bay, mà còn là tinh thần luôn đặt nhiệm vụ và sự an toàn của nhân dân lên trên sự an nguy của bản thân.
Từ trận địa phòng không đến những tuyến đường bị bom phá, từ đồng ruộng đến công trường sản xuất, ở đâu có nhiệm vụ, ở đó có người nữ xã đội trưởng gan dạ.
Cuộc đời và những chiến công của Anh hùng Lê Thị Mịch góp phần làm sáng lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh: kiên cường, mưu trí, dũng cảm, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy để bảo vệ quê hương, giữ vững giao thông và cuộc sống bình yên của nhân dân.


