Khác

Anh hùng Lê Trung Kiên

Quảng Trị13/08/2026phường Đông Hòa (Đoàn phường Đông Hòa)9 lượt xem0 lượt chia sẻ
Anh hùng Lê Trung Kiên

Anh hùng liệt sĩ

Anh hùng Lê Trung Kiên sinh ngày 10/2/1939, quê quán xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa (nay là huyện Đông Hòa), nhập ngũ ngày 20/10/1960.

image.png

Lê Trung Kiên sinh ra và lớn lên trong một gia đình ngư dân nghèo ở làng cát Hòa Hiệp giàu truyền thống cách mạng. Được cách mạng giáo dục, anh hăng hái tham gia công tác cách mạng ở địa phương. Trước khi thoát ly lên chiến khu gia nhập quân giải phóng thuộc đơn vị Đại đội Đặc công 202 (Tỉnh đội Phú Yên), anh đã xây dựng được bảy cơ sở cách mạng tại quê nhà, vận động 15 thanh niên địa phương gia nhập lực lượng vũ trang.

Trong quá trình hoạt động, Lê Trung Kiên luôn dũng cảm, không ngại hy sinh, gian khổ, xông xáo vào những nơi khó khăn nhất. Từng năm lần bị thương, anh vẫn sát cánh đơn vị bám sát chiến trường. Nhờ chuẩn bị chiến trường kỹ càng, có phương án chiến đấu tốt, có tinh thần dũng cảm, anh luôn có mặt trong các mũi nhọn tiến công. Các trận đánh do Lê Trung Kiên chỉ huy, đơn vị đều hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao phó.

Qua 48 trận đánh, với những cương vị khác nhau, Lê Trung Kiên góp phần vào thắng lợi của đơn vị. Trong trận đánh ấp chiến lược kiểu mẫu Phú Cần (7/1964), khi mở cửa đột phá, địch chống trả quyết liệt, Lê Trung Kiên vừa bình tĩnh chỉ huy đơn vị, vừa kiên quyết xông lên dập tắt hỏa điểm địch. Trận đánh phát triển thuận lợi, đơn vị diệt toàn bộ địch trong ấp, tạo thời cơ cho bà con nổi dậy giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng.

Tháng 10/1964, Lê Trung Kiên chỉ huy một tổ bộ đội đặc công của tỉnh luồn sâu vào vùng địch kiểm soát để đánh sân bay Tuy Hòa. Trận đánh diễn biến gay go, địch chống trả quyết liệt với ý định đến sáng mới phản kích. Lê Trung Kiên một mình mưu trí, dũng cảm xông lên dùng bộc phá và thủ pháo phá hủy hoàn toàn kho đạn của địch đặt trong sân bay, tạo thuận lợi cho đơn vị phát triển tiêu diệt địch.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, với cương vị Đại đội trưởng Đại đội Đặc công 202, Lê Trung Kiên hai lần chỉ huy đơn vị đánh vào Sở Chỉ huy của Trung đoàn 47 quân đội Sài Gòn đóng ở TX Tuy Hòa. Đây là trung đoàn chủ lực của địch có nhiệm vụ kìm kẹp đồng bào Phú Yên, càn quét và đánh phá vùng giải phóng. Trong cả hai trận đánh này, đơn vị của Lê Trung Kiên chỉ huy diệt nhiều địch, gây khí thế cho đồng bào thị xã nổi dậy giành quyền làm chủ. Lê Trung Kiên đã anh dũng hy sinh ngày 3/3/1968, trong trận đánh Sở Chỉ huy Trung đoàn 47 ngụy lần thứ hai tại TX Tuy Hòa.
Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất, hai Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, ngày 15/2/1970, Lê Trung Kiên được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

image.png

Ngày anh hùng Lê Trung Kiên hy sinh

50 năm đã trôi qua kể từ ngày trận đánh đêm ngày 3 rạng ngày 4/3/1968, nhưng những gì đã diễn ra trong trận đánh đó vẫn còn rõ như in qua câu chuyện kể của cựu chiến binh 91 tuổi Nguyễn Xuân, người trực tiếp chỉ đạo Đại đội Đặc công 202 tiến công đánh vào Trung đoàn 47 và Tỉnh đường ngụy. Trận đánh thể hiện tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của những chiến sĩ giải phóng quân thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, trong đó có người anh hùng Lê Trung Kiên.

Vào một buổi sáng đầu xuân, đang chuẩn bị cho chuyến đi xem hội đua ngựa truyền thống ở gò Thì Thùng (mùng 9 tháng Giêng), tôi nhận được điện thoại của bác Nguyễn Xuân. Bấm nút nghe, tôi lên tiếng: - Dạ thưa bác, cháu nghe! Phía bên kia, giọng bác Xuân hơi khàn khàn: - Cháu có bận gì không? Lên chơi! Tôi dạ một tiếng rồi ra dắt xe đi liền, trong lòng vẫn còn chút luyến tiếc về chuyến đi xem hội đua ngựa ấp ủ bấy lâu nay.

Đến nhà, thấy bác Xuân đã ngồi bên bàn với ấm trà nóng mới pha, vừa rót nước vừa hỏi chuyện đầu năm mới rôm rả, tôi nói vui: - Chúc bác sống khỏe, sống vui thêm chục năm nữa! Bác cười hóm hỉnh: - Với bác bây giờ, mười năm nữa là hơn một thế kỷ đó cháu, lính bác Giáp phấn đấu theo bác Giáp. Nhưng… chẳng có đâu, hơn chín mươi rồi, sống ngày nào biết ngày đó. Bác Xuân bắt đầu trút bầu tâm sự: - Cháu à! Cứ đến những ngày đầu xuân năm mới là bác thấy chạnh lòng, buồn buồn thương nhớ anh em, đồng đội xưa. Nhất là năm nay, đã 50 năm trôi qua từ chiến dịch “Mậu Thân Sáu Tám”. Còn ít ngày nữa là đến ngày Kiên và đồng đội của bác hy sinh, trận chiến ác liệt quá, hy sinh nhiều quá. Nói đến đây, nước mắt của bác Xuân giàn giụa. Bác đưa tay run run gỡ cặp kính xuống, nhìn tôi: - Bác muốn đi thăm nơi thằng Kiên và mấy đứa đã mất, muốn đi viếng mộ, đến nhà thắp hương cho anh em đã hy sinh, nhưng già rồi đi lại khó quá, thật có lỗi… mà không biết làm sao? Tôi vô cùng xúc động, ôm lấy vai người chiến sĩ đặc công đáng kính mà rằng: - Để cháu giúp! Liền sau đó, tôi gọi điện cho đồng chí Huynh, Đại đội trưởng 202 đề nghị thủ trưởng Phòng Tham mưu cho phép một số chiến sĩ của đơn vị sang giúp bác Xuân. Được sự đồng ý của đồng chí Đỗ Quốc Đạt, Phó chỉ huy trưởng, Tham mưu trưởng Bộ CHQS tỉnh, 30 phút sau, bốn chiến sĩ Đại đội 202 đã có mặt tại nhà bác Xuân. Lúc này, bác Xuân vui vẻ hẳn lên. Bác kể tóm tắt về trận đánh mà Đại đội trưởng Lê Trung Kiên đã hy sinh.

...Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Phú Yên, ta tiếp tục tổ chức tổng tiến công đợt hai, trong Mậu Thân 1968 gọi là “T26”, đánh vào TX Tuy Hòa và các quận lỵ, chi khu. Đại đội 202 lúc này được giao nhiệm vụ phối hợp với Đại đội 3, Tiểu đoàn 85 đánh vào Trung đoàn 47 ngụy và khu Tỉnh đường. Đại đội 202 do Đại đội trưởng Lê Trung Kiên chỉ huy, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của bác Nguyễn Xuân, Trưởng Ban Đặc công Tỉnh đội.

Đêm ngày 3 rạng ngày 4/3, Đại đội 202 chia thành 4 mũi xuất phát tiếp cận mục tiêu, nhưng bị địch phát hiện và nổ súng trước. Các mũi tiến công của ta đều “bị tà”, không phát triển được. Bộ đội thay phiên nhiều lần tiếp cận hàng rào, nổ gần hết bộc phá nhưng cửa mở chưa thông. Địch từ các lô cốt, hỏa điểm chống trả quyết liệt, ta hy sinh nhiều, trời đã sắp sáng. Từ vị trí chỉ huy, Đại đội trưởng Lê Trung Kiên quan sát thấy cách 50m, một lô cốt địch trên gò cao quá lợi hại, hỏa lực địch từ các lỗ châu mai bắn vào chính diện đội hình Đại đội 202. Đại đội trưởng Lê Trung Kiên hội ý chỉ huy và báo cáo trong tiếng bom đạn xin phép đồng chí Nguyễn Xuân: - Để em lên đánh sập lô cốt! Chưa kịp nghe xong chỉ thị của cấp trên, Lê Trung Kiên ôm bộc phá lao lên được khoảng 30m thì bị trúng đạn hy sinh.

-       Lúc này khoảng “bốn rưỡi”, bác Xuân nói. Lúc đó, bác giao nhiệm vụ cho Chính trị viên đại đội Nguyễn Thành Út tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu. Bốn mũi tiến công của Đại đội 202 và các mũi của Tiểu đoàn 85 không làm chủ được trận đánh, lực lượng ta hy sinh và bị thương rất lớn, có mũi hy sinh không còn người nào.

Trời tản sáng, pháo địch ở gò Đá, núi Nhạn phối hợp với máy bay bắn mãnh liệt vào đội hình. Bác Xuân chỉ đạo cho Đại đội 202, lúc này còn 13 người theo bờ mương rút lui: - Cứ quan sát, dự đoán chỗ nào thưa địch là tìm cách luồn lách rút lui, quá trình rút lui phải tuyệt đối bí mật, chỉ còn ít viên đạn, ít thủ pháo và lựu đạn phòng khi bất trắc tử thủ. Về đến Quan Quang là thấy an toàn rồi, nhưng lực lượng của ta còn quá ít. Nói đến đây bác Xuân nghẹn lại... Đại đội hy sinh trên 40 người, trong đó có Đại đội trưởng Lê Trung Kiên, người đã trải qua nhiều trận chiến đấu, chỉ huy đại đội lập nên nhiều chiến công xuất sắc. Cái tên 202 và Lê Trung Kiên là nỗi ám ảnh, kinh hoàng của binh lính và sĩ quan Mỹ, ngụy cũng như Nam Triều Tiên. Trong mọi trận đánh, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 202 đã nêu cao chủ nghĩa cách mạng, quyết xả thân vì sự nghiệp giải phóng quê hương, thống nhất Tổ quốc…

Như đã trút được một phần tâm sự, bác Xuân có vẻ như điềm tĩnh hơn: - Giờ bác cháu mình đi xem lại cái lô cốt nơi ngày xưa “anh Kiên bay” hy sinh rồi ra mộ thắp hương tưởng niệm trước ngày giỗ lần thứ 50 của anh ấy nhé. Bác thấy nhớ anh em quá!

Đã từ lâu, Đại đội 202, Lê Trung Kiên đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước và ý chí bất khuất trước kẻ thù của người dân Phú Yên. Đã có con đường mang tên Lê Trung Kiên, có trường học mang tên Lê Trung Kiên như là biểu tượng chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Xin ghi nhớ và khắc sâu mãi mãi trận chiến đấu cuối cùng của anh hùng liệt sĩ Lê Trung Kiên và đồng đội, khắc sâu công ơn trời biển của cha, anh đã đổ máu, hy sinh vì sự trường tồn của dân tộc Việt Nam.

·         Nhân chứng lịch sử

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đắc Thạnh, các nhân chứng lịch sử tiếp tục “truyền lửa” nhiệt tình cách mạng, giáo dục truyền thống yêu nước của quân và dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Qua đó, cổ vũ toàn dân nỗ lực vượt qua khó khăn, tiếp tục giành được những thắng lợi to lớn trên con đường đổi mới, hội nhập, xây dựng và phát triển...Vũng Rô (thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên) là bến quan trọng ở khu vực miền Trung, được Trung ương và Khu V chọn để đón các chuyến tàu không số tiếp tế vũ khí, hàng chi viện cho các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa và Đắk Lắk. Tại đây, từ tháng 11-1964 đến tháng 2-1965 đã có 4 chuyến tàu không số cập bến, trong đó có 3 chuyến cập bến thành công với khoảng 200 tấn vũ khí, hàng chi viện cho chiến trường.
Từ sự chi viện kịp thời của Tàu không số, quân và dân ở Phú Yên đã giành được nhiều thắng lợi quyết định trên chiến trường như: Chiến thắng Gò Thì Thùng năm 1966; tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; chiến thắng lịch sử Đường 5, cùng bộ đội chủ lực giải phóng tỉnh Phú Yên vào ngày 1-4-1975, góp phần cùng quân và dân cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

image.png

https://www.facebook.com/share/v/1S3wjMBb7n/

Đây là đường link video thời sự về các Cựu chiến binh mọi người có thể truy cập để xem !

Di tích lịch sử

Danh nhân Lương Văn Chánh quê ở xã Phú Hậu, huyện Đông Sơn, trấn Thanh Hóa. Ông là vị quan thanh liêm, tận tụy, từng giữ chức Đô chỉ huy sứ dưới triều Lê Trung Hưng, được phong tước Phù Nghĩa Hầu.

Sinh ra trong thời kỳ đất nước chia cắt, ông sớm bộc lộ tầm nhìn chiến lược và lòng trung thành tuyệt đối với triều đình. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với công cuộc khai hoang, mở đất phương Nam, đặc biệt là vùng đất Phú Yên ngày nay.Năm 1558, khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, Lương Văn Chánh là người có công lớn trong việc tổ chức di dân, khai khẩn, ổn định đời sống cho nhân dân.

Đến năm 1578, ông được giao nhiệm vụ đưa dân từ miền Bắc vào vùng Nam Trung Bộ lập làng, dựng ấp — mở đầu cho công cuộc khai khẩn vùng đất từ Tuy Viễn (Bình Định) đến Phú Yên.

Năm 1597, ông được Nguyễn Hoàng ủy nhiệm cai quản việc định cư tại các vùng Cù Mông, Bà Đài (Xuân Đài), Bà Diễn (Đà Diễn) và Bà Nông (Đà Nông). Dưới sự điều hành của ông, vùng đất này nhanh chóng trở thành nơi trù phú, hình thành hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, đặt nền móng cho phủ Phú Yên vào năm 1611.Cả cuộc đời Lương Văn Chánh gắn liền với sự nghiệp khai hoang, tổ chức đời sống dân cư và bảo vệ biên cương phương Nam. Ông là biểu tượng của tinh thần tiên phong, chí nhân, cần lao và vì dân vì nước.

Ngày 19 tháng 9 năm Tân Hợi (1611), ông qua đời. Triều đình nhà Nguyễn và nhân dân Phú Yên tôn ông là Thượng Đẳng Thần, lập Đền thờ Lương Văn Chánh tại xã Hòa Tri, huyện Phú Hòa để tưởng nhớ công đức.

Di tích Khu mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 27/9/1996. Hàng năm, vào ngày mùng 6/2 và ngày 9/9 (âm lịch), chính quyền địa phương cùng gia tộc họ Lương tổ chức ngày giỗ và lễ dâng hương tại đây với lòng thành kính, biết ơn tiền nhân có sự tham gia của các tầng lớp Nhân dân địa phương và thu hút nhiều khách đến dâng hương tưởng niệm, tham quan tìm hiểu di tích, thưởng thức các chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống phục vụ Nhân dân.

image.png


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn