Anh hùng Lê Văn Bái – Nữ chiến sĩ tình báo, biệt động kiên trung, ngọn đuốc thầm lặng giữa sào huyệt địch
Lê Văn Bái (Lê Thị Bái, Cán bộ Tình báo - Biệt động thuộc Ban An ninh Tỉnh ủy Quảng Đức) là người nữ chiến sĩ hoạt động thầm lặng nhưng vô cùng quả cảm. Bà đã dũng cảm thâm nhập vào các cơ quan đầu não của đối phương, gầy dựng cơ sở cách mạng bí mật, thu thập nhiều tin tức tình báo giá trị và trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh táo bạo ngay trong lòng thị xã Gia Nghĩa.
Lê Văn Bái (thường gọi là Lê Thị Bái, bí danh Thu) sinh năm 1945 tại xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Sinh ra tại vùng quê giàu truyền thống cách mạng, bà sớm tham gia hoạt động bí mật từ khi còn là nữ sinh. Năm 1965, bà được điều động lên địa bàn Nam Tây Nguyên (tỉnh Quảng Đức, nay thuộc tỉnh Đắk Nông) – nơi có vị trí chiến lược quan trọng nhưng lực lượng ta thời điểm đó còn gặp nhiều khó khăn.
Dưới vỏ bọc một người buôn bán nhỏ, Lê Văn Bái đã mưu trí xây dựng mạng lưới cơ sở bí mật rộng khắp tại thị xã Gia Nghĩa và các vùng phụ cận. Bà khéo léo móc nối với các công chức, binh lính trong bộ máy chính quyền Sài Gòn để thu thập thông tin về các cuộc càn quét, sơ đồ bố phòng và các chiến dịch tình báo của đối phương, kịp thời báo về cho Ban An ninh Tỉnh ủy Quảng Đức để chủ động phòng tránh và đánh trả.
Không chỉ thực hiện xuất sắc nhiệm vụ tình báo, Lê Văn Bái còn trực tiếp tổ chức và chỉ huy các tổ biệt động an ninh tiến hành nhiều trận đánh táo bạo ngay tại sào huyệt địch. Bà đã trực tiếp vận chuyển hàng trăm kilôgam thuốc nổ, tài liệu bí mật qua các trạm kiểm soát gắt gao của địch vào nội thị, phục vụ cho các trận đánh phá hoại kho tàng, ty cảnh sát và trừng trị những tên ác ôn khét tiếng.
Trong một chuyến công tác vận chuyển tài liệu và vũ khí vào năm 1971, bà bị địch phục kích và bắt giữ. Trải qua nhiều tháng ngày bị giam cầm tại các nhà tù khét tiếng với những trận đòn tra tấn dã man bằng điện và nước vôi, Lê Văn Bái vẫn giữ vững khí tiết, kiên quyết không khai báo bất kỳ cơ sở hay đồng chí nào. Sau khi được trao trả theo Hiệp định Giơ-ne-vơ/Paris, bà lại lập tức trở về tuyến đầu công tác cho đến ngày quê hương hoàn toàn giải phóng. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, bà vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.


