ANH HÙNG LÊ VĂN ĐẠM
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Văn Đạm sinh năm 1920 trong một gia đình bần nông tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, đồng chí giữ chức Chính trị viên Xã đội An Nhơn Tây. Gia đình đồng chí có sáu người con tham gia cách mạng, trong đó ba người đã anh dũng hy sinh.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí là người nông dân kiên cường bám đất, bám làng. Với cây tầm vông vạt nhọn, đồng chí tham gia nhiều hoạt động phá hoại giao thông, phục vụ các cuộc nổi dậy và trực tiếp tham gia kháng chiến. Đồng chí còn sử dụng xe bò của gia đình để vận chuyển lương thực phục vụ các chiến dịch, đồng thời vận động cả gia đình cùng tham gia cách mạng.
Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, dù ba người con lần lượt hy sinh trên chiến trường, đồng chí vẫn tiếp tục động viên người con thứ sáu lên đường chiến đấu. Tuổi đã cao nhưng đồng chí luôn kiên cường bám trụ, cùng Nhân dân xây dựng làng chiến đấu, tổ chức lực lượng quần chúng sử dụng vũ khí thô sơ chống địch, gây nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Đồng chí còn xây dựng nhiều căn cứ bám trụ, tạo điều kiện cho các cơ quan và đơn vị đứng chân trên địa bàn hoạt động hiệu quả. Với tinh thần kiên trung ấy, đồng chí được đồng đội và Nhân dân trìu mến gọi là "Ông Ba bám trụ" và "Tham mưu trưởng vùng".
Trong phong trào Đồng Khởi năm 1960, đồng chí là lực lượng nòng cốt của địa phương, luôn gương mẫu thực hiện chủ trương của Đảng, tích cực tăng gia sản xuất nuôi quân, vận động thanh niên nhập ngũ và tham gia phá cầu, cắt đường nhằm cản bước tiến của địch.
Giai đoạn 1964–1965, khi phong trào đào địa đạo phát triển mạnh ở Củ Chi, đồng chí là một trong những người đi đầu, góp phần xây dựng hệ thống địa đạo kiên cố phục vụ chiến đấu. Dù tuổi cao, đồng chí vẫn nhiều lần tham gia tải đạn, mỗi đợt kéo dài từ 15 đến 20 ngày để phục vụ chiến trường.
Năm 1966, Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, liên tục mở các cuộc càn quét và sử dụng máy bay B-52 đánh phá dữ dội vùng Củ Chi. Gia đình đồng chí vẫn kiên quyết bám trụ, đồng thời vận động bà con giữ vững quê hương. Đầu năm 1967, trong Chiến dịch Cedar Falls, khi địch mở cuộc càn quy mô lớn vào sáu xã phía Bắc Củ Chi, gia đình mới sơ tán, riêng đồng chí cùng người con út và một số thanh niên ở lại tiếp tục chiến đấu.
Đồng chí phát động phong trào thu gom bom, đạn lép để chế tạo mìn và trái gài đánh địch. Ngay trong những trận đầu, lực lượng của đồng chí đã tiêu diệt 7 lính Mỹ, tạo niềm tin lớn cho du kích địa phương. Từ đó, phong trào thu gom bom đạn lép phát triển mạnh, nhiều bãi mìn được xây dựng, góp phần bảo vệ căn cứ và ngăn chặn các cuộc càn quét của địch.
Ban ngày chiến đấu, ban đêm đồng chí tổ chức các đội sản xuất dưới làn pháo kích và ánh đèn trực thăng của địch. Vụ mùa năm 1967, đơn vị đã thu hoạch hơn 120 giạ lúa, bảo đảm nguồn lương thực phục vụ bám trụ lâu dài.
Trong giai đoạn 1969–1970, mặc dù địch tăng cường đánh phá bằng nhiều loại vũ khí hiện đại, đồng chí vẫn cùng lực lượng du kích kiên cường bám trụ chiến đấu. Nghệ thuật sử dụng mìn và trái gài của đồng chí ngày càng hiệu quả. Có bãi mìn dài hơn 1.000 mét được bố trí gần 900 trái các loại, góp phần bắn cháy 2 trực thăng, phá hủy 8 xe tăng và xe bọc thép, tiêu diệt khoảng 150 lính Mỹ, bẻ gãy nhiều cuộc càn quét và khiến quân địch không còn dám tiến sâu vào căn cứ.
Bên cạnh chỉ huy chiến đấu, đồng chí luôn quan tâm chăm lo đời sống cán bộ, chiến sĩ, vận động xây dựng hầm trú ẩn, kho dự trữ lương thực và củng cố căn cứ. Nhờ đó, dù bị bao vây và phong tỏa trong thời gian dài, lực lượng du kích vẫn giữ vững thế trận. Đồng chí còn tận tình giúp đỡ các đơn vị bạn, tiêu biểu như việc nuôi giấu một bác sĩ cùng hai thương binh bị lạc, sau đó tìm cách đưa họ trở về đơn vị an toàn.
Năm 1969, đồng chí nhận nhiệm vụ bảo đảm nơi bám trụ an toàn cho một đại đội gồm 30 cán bộ, chiến sĩ. Trong một trận chiến khác, sau khi Trung đoàn 88 để lại nhiều liệt sĩ trên chiến trường, đồng chí cùng ba đồng đội đã chu đáo chôn cất 30 liệt sĩ, thể hiện nghĩa tình sâu sắc với đồng chí, đồng đội.
Đầu năm 1972, đồng chí được giao giữ chức Chính trị viên Xã đội An Nhơn Tây. Đêm 25 tháng 4 năm 1972, đồng chí cùng lực lượng du kích phối hợp với các đơn vị bạn tiến công giải phóng ấp chiến lược Trung Hòa, đồng thời tích cực vận động Nhân dân trở về quê cũ sinh sống và phát triển lực lượng du kích địa phương.
Trong giai đoạn 1967–1973, đồng chí trực tiếp chiến đấu và chỉ huy gần 200 trận, tiêu diệt khoảng 250 tên địch, phá hủy 2 trực thăng và 18 xe bọc thép, đồng thời thu gom, chế tạo hơn 1.000 quả mìn và trái gài phục vụ chiến đấu. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, Huân chương Độc lập hạng Ba và Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng đồng chí danh hiệu cao quý "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" theo Lệnh số 104/LCT do Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký.
Cuộc đời của Anh hùng Lê Văn Đạm là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần bám đất, bám dân trong suốt hai cuộc kháng chiến. Những cống hiến to lớn của đồng chí đã góp phần làm nên truyền thống anh hùng của quê hương Củ Chi – Đất thép Thành đồng, mãi là tấm gương để các thế hệ hôm nay và mai sau học tập, noi theo.


