anh hùng Lê Văn Dọn
Lê Văn Dọn (10 tháng 7 năm 1925 – 11 tháng 3 năm 2006), bí danh Tám Lê Thanh, Lê Thanh hay Tám Dọn,[3][4][5] là một nhà lãnh đạo quân sự mang quân hàm Trung tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, từng tham gia hai cuộc chiến tranh với Pháp và Hoa Kỳ. Xuyên suốt sự nghiệp, ông nắm giữ các chức vụ quan trọng như Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam, Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân khu 1, Chính ủy Quân khu Sài Gòn – Gia Định, Ủy viên ban an ninh Trung ương Cục miền Nam kiêm Chỉ huy Trưởng Lực lượng an ninh vũ trang Miền, Phó tư lệnh Công an nhân dân Vũ trang, Phó Tư lệnh Quân khu 7 và Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.[6] Ngoài ra, ông cũng từng là thành viên nằm trong ban lãnh đạo lâm thời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam – một tổ chức chính trị chủ chốt trong giai đoạn xung đột tại khu vực này ra đời vào năm 1960.
Lê Văn Dọn (10 tháng 7 năm 1925 – 11 tháng 3 năm 2006), bí danh Tám Lê Thanh, Lê Thanh hay Tám Dọn,[3][4][5] là một nhà lãnh đạo quân sự mang quân hàm Trung tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, từng tham gia hai cuộc chiến tranh với Pháp và Hoa Kỳ. Xuyên suốt sự nghiệp, ông nắm giữ các chức vụ quan trọng như Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam, Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân khu 1, Chính ủy Quân khu Sài Gòn – Gia Định, Ủy viên ban an ninh Trung ương Cục miền Nam kiêm Chỉ huy Trưởng Lực lượng an ninh vũ trang Miền, Phó tư lệnh Công an nhân dân Vũ trang, Phó Tư lệnh Quân khu 7 và Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.[6] Ngoài ra, ông cũng từng là thành viên nằm trong ban lãnh đạo lâm thời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam – một tổ chức chính trị chủ chốt trong giai đoạn xung đột tại khu vực này ra đời vào năm 1960.
Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Phú Thọ Hòa thuộc tỉnh Gia Định, Lê Thanh gia nhập Việt Minh vào năm 1945 và nhanh chóng tham gia lãnh đạo phong trào giành chính quyền từ tay Đế quốc Nhật Bản tại huyện Hóc Môn – Gò Vấp. Hai năm sau, ông là một những nhân vật đặt nền móng xây dựng nên công trình quân sự dưới lòng đất đầu tiên tại khu vực Nam Bộ để làm nơi trú ẩn cho đội quân kháng chiến. Đến thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, ông tiếp tục là một trong những người đầu tiên đặt nền móng xây dựng các vùng căn cứ cách mạng, góp phần hình thành lực lượng vũ trang Miền và hệ thống căn cứ của Trung ương Cục.[7][8] Năm 1960, trận tập kích vào doanh trại Nguyễn Thái Học do Lê Thanh nằm trong ban chỉ huy và trực tiếp tham chiến đã gây sốc cho chính quyền Ngô Đình Diệm cùng các cố vấn quân sự Hoa Kỳ, thúc đẩy sự ra đời bản Tuyên ngôn Caravelle, đồng thời khiến Đại sứ quán Mỹ phải đưa ra đề nghị nên huấn luyện sư đoàn Quân lực Việt Nam Cộng hòa về tác chiến du kích nhằm đối phó lại sự gia tăng hoạt động của các lực lượng vũ trang đối lập. Truyền thông Việt Nam nhận định đây là cột mốc mở đầu cho phong trào Đồng Khởi nhằm chống lại sự can thiệp của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn.
Cuối năm 1969, Lê Thanh là vị chỉ huy quân đội duy nhất sống sót trong một trận giao tranh với lính Hải quân Hoa Kỳ trên sông Vàm Cỏ Đông, trong khi cấp trên của ông là nhà tình báo Hoàng Minh Đạo đã thiệt mạng. Sau khi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai kết thúc, với vị thế là người đại diện cho Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng khu vực phía Nam, ông tiếp tục thành lập lực lượng trung đoàn cơ động nhằm bảo vệ vùng biên giới, triển khai một loạt hệ thống đồn biên phòng Nam Bộ, đồng thời tổ chức các đoàn quân tiến sang Campuchia truy quét quân đội Pol Pot trong chiến dịch biên giới Tây Nam. Lê Thanh nghỉ hưu vào năm 1995 và qua đời 11 năm sau đó, ông đã được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng nhiều huân chương, trong đó có danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký quyết định phê duyệt vào năm 2015.
Thân thế và khởi đầu cách mạng
Lê Văn Dọn xuất thân từ giai cấp bần nông,[9] ông sinh ngày 10 tháng 7 năm 1925 tại xã Phú Thọ Hòa, tổng Dương Hòa Thượng, huyện Gò Vấp, tỉnh Gia Định, xứ thuộc địa Nam Kỳ, tính đến cuối năm 2024 là phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.[10][11] Từ những năm 1935–1936, khi mới khoảng 12 tuổi, Lê Thanh đã tham gia làm liên lạc cho Tỉnh ủy Gia Định, trong bối cảnh gia đình ông cùng một số hộ dân tại địa phương tổ chức đào các hầm bí mật ngay trong khuôn viên nhà để ẩn nấp.[12]
Tháng 5 năm 1945, ông gia nhập đoàn Thanh niên Cứu quốc để chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa.[11] Ba tháng sau, khi phong trào đấu tranh giành chính quyền lên đến cao trào, tại huyện Gò Vấp và tỉnh Gia Định, quân đoàn Thanh niên Tiền phong phối hợp với lực lượng khởi nghĩa do Lê Thanh và Lâm Quốc Đăng (Tư Thược) lãnh đạo đã tiến hành đấu tranh vũ trang chống lại Đế quốc Nhật Bản, sau đó thành lập nên Ủy ban hành chính xã Phú Thọ Hòa lấy Đình Phú Thạnh làm trụ sở chính.[13] Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.[11]
Khoảng thời gian từ năm 1940 đến 1945, Lê Thanh và Lâm Quốc Đăng đã dùng chính điện của Đình Phú Thạnh làm căn cứ hoạt động, xây dựng lực lượng, hỗ trợ quá trình đấu tranh tại địa phương.[13] Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, ông cùng với các cấp ủy xã Phú Thọ Hòa tiếp tục sử dụng ngôi đình này cùng với Đình Tân Hòa Tây làm cơ sở để bàn thảo kế hoạch,[b] vận động quần chúng đóng góp vật lực cho cách mạng và tham gia kháng chiến.[13][16]



