Anh hùng Lê Văn Phích
Lê Văn Phích, sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 1 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đại đội A (Đơn vị Anh hùng), bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Anh hùng Lê Văn Phích
Lê Văn Phích, sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 1 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đại đội A (Đơn vị Anh hùng), bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 15 tuổi Lê Văn Phích đã tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương, vào tự vệ ấp, xây dựng làng chiến đấu. Năm 17 tuổi đồng chí vào đội dân quân xã trực tiếp cầm súng bảo vệ quê hương. Do bơi lội giỏi, tháng 1 năm 1968, đồng chí được bổ sung vào đội công binh bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.
Đồng chí đã tham gia nhiều trận đánh, phá hủy cầu, phà, đánh chìm tàu chiến, tiêu diệt nhiều địch và phương tiện chiến tranh của chúng. Trong chiến đấu, Lê Văn Phích rất dũng cảm, bình tĩnh dùng kỹ thuật bơi lặn giỏi, tìm mọi cách vượt khó khăn nguy hiểm, hoàn thành nhiệm vụ.
Tháng 9 năm 1968, ban chỉ huy đại đội giao cho Lê Văn Phích nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu đề xuất phương án đánh đoàn 4 chiếc tàu chiến Mỹ, trong đó có 1 tàu chiến nhỏ mang 6 khẩu pháo, đóng ở đầu kênh Chẹt Sậy. Cách chỗ đoàn tàu chiến đậu 50 mét, có một chiếc cầu trên đó có 1 trung đội ngụy tuần tra, ở móng cầu có bốt gác chiếu đèn pha suốt đêm khắp mặt sông. Trên bờ bọn Mỹ đóng rải rác. Qua 2 đêm dày công bơi lặn nghiên cứu, đồng chí vào sờ từng chiếc tàu, xác định điểm đặt mìn và lập phương án chiến đấu. Được cấp trên chuẩn y kế hoạch, đêm 24 tháng 9, tổ của Lê Văn Phích phải đưa trái mìn đi dưới sông từ xa 600 mét và phải qua một ngã ba rộng 200 mét nước xoáy mạnh. Lợi dụng lúc đèn pha quét sang hướng khác, cả tổ vượt qua ngã ba và áp vào tàu buộc mìn xong không đầy 5 phút. Nhưng không may, mìn bị hỏng, chữa đi chữa lại hàng tiếng đồng hồ vẫn không được, cả tổ phải bí mật rút về căn cứ. Đêm sau, các đồng chí lại tiếp tục đánh. Lần này tuy địch có bắn súng và ném lựu đạn quanh tàu mấy lần, nhưng với kỹ thuật điêu luyện và tinh thần dũng cảm, mưu trí, các đồng chí đặt được mìn vào nơi đã định và rút ra an toàn. Mìn nổ dìm xuống sông chiếc tàu chiến có 6 khẩu pháo và toàn bộ bọn lính trên tàu.
Tháng 11 năm 1968, Lê Văn Phích tham gia trận đánh tàu chiến trên sông Hàm Luông. Một đoàn 7 chiếc tàu chiến cùng 300 tàu, xuồng lớn nhỏ kéo đến sông Hàm Luông để yểm hộ cho trận càn lớn vào Giồng Trôm. Nhận nhiệm vụ đánh đoàn tàu này, Lê Văn Phích và 3 đồng chí khác phải hành quân cách 10 ki-lô-mét và chuyển mìn dưới nước 3 ki-lô-mét. Địch nhiều lần bắn súng, ném lựu đạn bừa bãi vào các đám bèo, tàu tuần tra của chúng chạy sát cách đồng chí 5 mét làm cho tổ xáo động đội hình, liên lạc với nhau rất khó khăn. Lợi dụng thời cơ địch mải theo dõi bắn ra vòng ngoài, Lê Văn Phích áp sát vào mục tiêu đặt mìn và cả tổ nhanh chóng rút ra ngoài khu vực nguy hiểm. Sau 10 phút, mìn nổ tung dìm 1 tàu chiến cùng 14 tàu khác với hàng trăm tên giặc Mỹ xâm lược xuống sông.
Cuối năm 1969, tiểu đội Lê Văn Phích nhận nhiệm vụ đánh cầu Bình Chánh. Cầu này dài 100 mét, nằm trên đường Bến Tre - Giồng Trôm, được rào bằng 2 lớp kẽm gai dày, có bốt gác ở hai đầu cầu và dưới trụ cầu. Đồng chí điều tra nghiên cứu 3 tháng liền mới lập xong phương án đánh.
Lần đánh thứ nhất, Lê Văn Phích cùng một đồng chí khác đem mìn vào. Nhưng không may, địch bắn súng vu vơ xuống nước làm đồng đội hy sinh, mìn chìm xuống đáy sông, kế hoạch phải hoãn lại.
Sau 2 tháng điều tra, nghiên cứu lại quy luật hoạt động của địch, Lê Văn Phích đề nghị và được chuẩn y cho đánh cầu vào lúc bắt đầu sáng, là lúc địch đổi gác và rút bớt lính gác cầu. Đúng 5 giờ 30 sáng Lê Văn Phích bí mật, khéo léo đặt mìn phá 2 nhịp cầu, diệt 15 tên địch cắt giao thông của chúng trong 2 tháng.
Lê Văn Phích chiến đấu mưu trí, dũng cảm, không chịu lùi bước trước khó khăn, luôn luôn suy nghĩ tìm mọi sáng kiến thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên giao cho. Đồng chí có tinh thần đoàn kết nội bộ tốt, khéo léo tuyên truyền, giáo dục nhân dân, gây cơ sở để hoạt động bí mật.
Đồng chí đã được tặng thưởng 4 bằng khen, 7 giấy khen, Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 9 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, được bầu là lá cờ đầu của đại đội A, Đơn vị Anh hùng.
Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Lê Văn Phích được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


